Kiến trúc Việt Nam trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Kiến trúc Việt Nam trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc

Kiến trúc Việt Nam trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc

Đất nước đang bước vào một giai đoạn phát triển mới với khát vọng trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao vào giữa thế kỷ 21. Tinh thần đó được thể hiện xuyên suốt trong các chủ trương của Đảng và Nhà nước, đặc biệt là sau Đại hội XIV của Đảng về đổi mới mô hình tăng trưởng, phát triển khoa học công nghệ, chuyển đổi số, phát triển xanh, phát huy sức mạnh văn hóa và con người Việt Nam. Đây chính là “kỷ nguyên vươn mình của dân tộc” - một giai đoạn lịch sử đòi hỏi sự chuyển mình mạnh mẽ của mọi lĩnh vực, trong đó có kiến trúc.

Vậy, Kiến trúc Việt Nam cần làm gì để đồng hành cùng sự phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới?

Trong mọi thời đại, những bước phát triển lớn của dân tộc luôn gắn liền với những không gian kiến trúc và đô thị tương xứng. Nếu thế kỷ 11 ghi dấu Thăng Long với kinh đô của một quốc gia độc lập, thì thế kỷ 21 Việt Nam phải xây dựng được hệ thống đô thị hiện đại, thông minh, xanh và có năng lực cạnh tranh quốc tế. Nhiệm vụ hàng đầu của kiến trúc là kiến tạo môi trường sống chất lượng cao cho người dân. Một quốc gia phát triển không thể tồn tại trên nền tảng của những đô thị ngập úng, ùn tắc, ô nhiễm và thiếu bản sắc. Kiến trúc phải góp phần giải quyết các thách thức đó thông qua tư duy quy hoạch tiên tiến, thiết kế bền vững và quản trị không gian hiệu quả. Các kiến trúc sư (KTS) cần chuyển từ tư duy thiết kế đơn lẻ sang tư duy kiến tạo hệ sinh thái không gian. Mỗi công trình phải được đặt trong tổng thể đô thị, cảnh quan, văn hóa và môi trường. Mỗi dự án cần hướng đến giá trị lâu dài thay vì lợi ích ngắn hạn. Trong kỷ nguyên mới, kiến trúc phải trở thành động lực phát triển chứ không chỉ là sản phẩm của phát triển.

Hiện nay, sự đồng dạng hóa kiến trúc là một nguy cơ của kiến trúc thế giới. Nhiều thành phố hiện đại đang trở nên giống nhau với các cao ốc, trung tâm thương mại và khu đô thị thiếu cá tính. Nếu không cẩn trọng, các đô thị Việt Nam cũng sẽ đánh mất bản sắc riêng. Kiến trúc Việt Nam không thể cạnh tranh bằng quy mô hay chiều cao công trình. Điều làm nên giá trị khác biệt chính là bản sắc văn hóa dân tộc. Bản sắc không phải là sao chép mái đình, mái chùa hay các chi tiết cổ truyền một cách hình thức. Bản sắc phải được thể hiện ở cách ứng xử với khí hậu nhiệt đới, với thiên nhiên, với cộng đồng và với ký ức văn hóa địa phương. 

Một nền kiến trúc lớn phải biết kết hợp hài hòa giữa truyền thống và hiện đại. Những giá trị của nhà ở dân gian, làng Việt, phố cổ, kiến trúc cung đình, kiến trúc thuộc địa, kiến trúc hiện đại Việt Nam cần được nghiên cứu, kế thừa và sáng tạo trong điều kiện mới chứ không phải là loại bỏ quá khứ. Càng hội nhập sâu rộng càng cần khẳng định bản sắc Việt Nam. Vì thế, kiến trúc phải trở thành ngôn ngữ vật chất kể câu chuyện Việt Nam với thế giới.

Biến đổi khí hậu đang trở thành thách thức toàn cầu. Việt Nam là một trong những quốc gia chịu tác động mạnh nhất bởi nước biển dâng, thiên tai cực đoan và suy giảm tài nguyên. Trong bối cảnh đó, kiến trúc không thể tiếp tục đi theo mô hình tiêu thụ năng lượng cao và khai thác tài nguyên thiếu kiểm soát. Kiến trúc Việt Nam cần trở thành lực lượng tiên phong trong chuyển đổi xanh. Điều này đòi hỏi phát triển mạnh kiến trúc sinh thái, kiến trúc tiết kiệm năng lượng, vật liệu thân thiện môi trường, công trình phát thải thấp và mô hình đô thị tuần hoàn. Mỗi công trình mới phải được xem xét không chỉ ở chi phí đầu tư ban đầu mà còn ở vòng đời sử dụng hàng chục năm sau đó. Các thành phố cần được tổ chức theo hướng giảm phụ thuộc vào xe cá nhân, tăng không gian công cộng, phát triển giao thông công cộng và bảo vệ hệ thống sông hồ tự nhiên. Đặc biệt đối với Hà Nội, hồ Tây, sông Hồng, hệ thống hồ nội đô cần được coi là tài sản chiến lược của đô thị chứ không đơn thuần là quỹ đất phát triển bất động sản. Kiến trúc xanh không còn là xu hướng lựa chọn mà đã trở thành yêu cầu bắt buộc của tương lai.

Ngày nay, giá trị của kiến trúc không chỉ nằm ở chức năng sử dụng mà còn nằm ở khả năng tạo ra giá trị kinh tế, văn hóa và thương hiệu quốc gia. Nhiều thành phố nổi tiếng trên thế giới được nhận diện thông qua các công trình kiến trúc biểu tượng. Kiến trúc đã trở thành một ngành của kinh tế sáng tạo. Nghị quyết 80 của Đảng về phát triển văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới đã đặt văn hóa và con người vào vị trí trung tâm chiến lược, xác định đây là trụ cột và động lực nội sinh cho phát triển nhanh, bền vững đất nước, phát triển công nghiệp văn hóa để văn hóa vừa là nền tảng tinh thần, vừa là nguồn lực kinh tế, vừa là sức mạnh mềm của quốc gia”. Và như thế, kiến trúc được nhìn nhận như một nguồn lực quan trọng. Các công trình bảo tồn, bảo tàng, quảng trường, trung tâm văn hóa, tuyến phố lịch sử, không gian sáng tạo hay các dự án tái sinh di sản đều có thể tạo ra giá trị kinh tế rất lớn. Kiến trúc không chỉ phục vụ xây dựng mà còn tạo nên sức hấp dẫn du lịch, nâng cao năng lực cạnh tranh địa phương và góp phần quảng bá hình ảnh đất nước. Muốn vậy, cần khuyến khích sáng tạo kiến trúc, bảo vệ quyền tác giả, nâng cao chất lượng các cuộc thi tuyển thiết kế và tạo môi trường để kiến trúc sư phát huy năng lực đổi mới.

Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang làm thay đổi sâu sắc ngành xây dựng và kiến trúc. Các công nghệ như BIM, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, mô phỏng số, thực tế ảo, vật liệu thông minh và xây dựng tự động đang tạo ra những phương thức hành nghề hoàn toàn mới. Nếu không nhanh chóng thích ứng, kiến trúc Việt Nam sẽ tụt hậu. Các trường đào tạo kiến trúc cần đổi mới chương trình theo hướng kết hợp giữa nghệ thuật, công nghệ và quản trị. Các tổ chức tư vấn kiến trúc cần đẩy mạnh chuyển đổi số, nâng cao năng lực nghiên cứu và ứng dụng công nghệ mới. Tuy nhiên, công nghệ không thay thế được tư duy sáng tạo của con người. Giá trị cốt lõi của KTS vẫn là khả năng hình dung tương lai, giải quyết vấn đề và tạo ra những không gian có ý nghĩa cho cộng đồng. Công nghệ là công cụ; con người mới là chủ thể sáng tạo.

Trong nhiều năm qua, kiến trúc chủ yếu tập trung vào các đô thị lớn. Tuy nhiên, hơn một nửa dân số Việt Nam vẫn sinh sống ở nông thôn. Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc không thể chỉ là câu chuyện của các thành phố. Kiến trúc cần hướng nhiều hơn đến nông thôn, miền núi, hải đảo và các vùng khó khăn. Đó là nơi đang đối mặt với sự mai một bản sắc, suy giảm không gian công cộng và những tác động ngày càng lớn của biến đổi khí hậu. Các KTS cần nghiên cứu mô hình làng sinh thái, làng thông minh, bảo tồn kiến trúc truyền thống và phát triển nhà ở phù hợp với điều kiện địa phương. Nông thôn Việt Nam không nên trở thành bản sao thu nhỏ của đô thị. Mỗi vùng miền cần giữ được nét đặc sắc riêng trong quá trình hiện đại hóa.

Một nền kiến trúc phát triển không chỉ được đo bằng số lượng công trình mà còn bằng trách nhiệm xã hội của đội ngũ KTS. Trong nhiều vấn đề quan trọng như quy hoạch đô thị, bảo tồn di sản, cải tạo sông hồ, phát triển nhà ở xã hội hay ứng phó biến đổi khí hậu, tiếng nói phản biện của giới kiến trúc cần được lắng nghe nhiều hơn. KTS không chỉ là người nhận đơn đặt hàng để thiết kế. KTS còn là trí thức xã hội có trách nhiệm đóng góp ý kiến cho các quyết sách phát triển đất nước. Tinh thần phản biện khoa học, độc lập, xây dựng và vì lợi ích cộng đồng cần trở thành một giá trị nghề nghiệp quan trọng. Đó cũng là cách để kiến trúc thực sự đồng hành cùng dân tộc trong quá trình phát triển.

Bước vào giai đoạn phát triển mới của đất nước, vai trò của Hội KTS Việt Nam cần được nâng lên tương xứng với yêu cầu của thời đại. Hội không chỉ là tổ chức nghề nghiệp mà cần trở thành một trung tâm trí tuệ, sáng tạo và phản biện xã hội trong lĩnh vực kiến trúc, quy hoạch và phát triển không gian sống quốc gia. Hội KTS Việt Nam không chỉ là nơi tập hợp hội viên mà phải trở thành “bộ não tư duy không gian” của quốc gia, tham gia hiệu quả vào trong các quyết sách phát triển của quá trình hiện đại hóa.

Trước hết, Hội cần đi đầu trong việc xây dựng tầm nhìn chiến lược cho kiến trúc Việt Nam thế kỷ 21. Bên cạnh việc bảo vệ quyền hành nghề và lợi ích chính đáng của hội viên, Hội phải tham gia nghiên cứu, đề xuất những định hướng lớn về phát triển đô thị, nông thôn, bảo tồn di sản, kiến trúc xanh và thích ứng với biến đổi khí hậu. Những vấn đề mang tính chiến lược quốc gia như phát triển hệ thống đô thị đa trung tâm, quy hoạch vùng Thủ đô Hà Nội, phát triển hành lang sông Hồng, bảo vệ Hồ Tây, chỉnh trang đô thị lịch sử hay xây dựng nông thôn mới đều cần có tiếng nói khoa học và trách nhiệm của giới KTS.

Thứ hai, Hội cần trở thành lực lượng nòng cốt trong việc bảo vệ và phát huy bản sắc kiến trúc Việt Nam. Trong bối cảnh toàn cầu hóa mạnh mẽ, nguy cơ đồng dạng hóa kiến trúc đang hiện hữu ở nhiều địa phương. Hội phải chủ động nghiên cứu, tổng kết thực tiễn và đề xuất các hệ giá trị nhận diện kiến trúc Việt Nam đương đại, góp phần tạo nên những công trình vừa hiện đại vừa mang đậm tinh thần văn hóa dân tộc. 

Thứ ba, Hội cần thúc đẩy mạnh mẽ đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong hành nghề kiến trúc. Cần hỗ trợ hội viên tiếp cận các công nghệ mới như BIM, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, mô phỏng đô thị số và các giải pháp thiết kế bền vững. Hội phải là cầu nối giữa giới KTS Việt Nam với các xu hướng tiên tiến của thế giới.

Thứ tư, Hội cần phát huy mạnh mẽ chức năng phản biện xã hội. Một tổ chức nghề nghiệp có uy tín không chỉ tôn vinh các công trình đẹp mà còn phải dũng cảm lên tiếng trước những dự án có nguy cơ làm tổn hại đến môi trường, cảnh quan, di sản văn hóa và lợi ích cộng đồng. Phản biện khoa học, khách quan và xây dựng chính là trách nhiệm xã hội cao nhất của giới KTS đối với đất nước.

Thứ năm, Hội cần đặc biệt quan tâm đến thế hệ KTS trẻ. Tương lai của kiến trúc Việt Nam phụ thuộc vào năng lực sáng tạo của lớp KTS mới. Hội phải tạo môi trường thuận lợi để phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng tài năng trẻ; khuyến khích nghiên cứu khoa học, sáng tác kiến trúc và hội nhập quốc tế.

Cuối cùng, Hội KTS Việt Nam cần khẳng định vị thế là một tổ chức nghề nghiệp tiên phong trong sự nghiệp xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Mỗi KTS phải trở thành một chiến sĩ trên mặt trận văn hóa; mỗi công trình phải là một đóng góp cho diện mạo quốc gia; và Hội KTS Việt Nam phải là ngôi nhà chung quy tụ trí tuệ, trách nhiệm và khát vọng cống hiến của đội ngũ KTS cả nước.

Nếu thế kỷ 20 là thế kỷ giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước, thì thế kỷ 21 là thế kỷ phát triển kinh tế, cạnh tranh về chất lượng không gian sống, bản sắc văn hóa và năng lực sáng tạo. Ở đó, kiến trúc Việt Nam có sứ mệnh góp phần tạo dựng diện mạo của một quốc gia phát triển, văn minh và hạnh phúc. Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng đang mở ra những cơ hội lớn chưa từng có cho kiến trúc Việt Nam, nhưng đồng thời cũng đặt ra những yêu cầu và trách nhiệm mới. Kiến trúc Việt Nam không chỉ xây dựng nhà cửa, đường phố hay các khu đô thị. Kiến trúc đang góp phần kiến tạo tương lai của đất nước. Trong giai đoạn tới, kiến trúc cần thực hiện đồng thời nhiều sứ mệnh: kiến tạo không gian phát triển quốc gia, bảo vệ bản sắc văn hóa dân tộc, dẫn dắt chuyển đổi xanh, thúc đẩy kinh tế sáng tạo, làm chủ công nghệ mới, phục hưng nông thôn và tăng cường phản biện xã hội. Khát vọng xây dựng một Việt Nam hùng cường vào giữa thế kỷ 21 sẽ không thể thành hiện thực nếu thiếu những không gian sống văn minh, nhân văn và bền vững. 

Và đó chính là trách nhiệm lịch sử của giới kiến trúc và Hội KTS Việt Nam hôm nay.

KTS Phạm Thanh Tùng
Thế Công