Pháp luật xây dựng

Kỳ 3: Phán quyết “Đau bụng uống nhân sâm…”

Qua vụ tranh chấp nhà đất tại Vĩnh Long: Một sai lầm có thể biến trắng thành đen!

Kỳ 3: Phán quyết “Đau bụng uống nhân sâm…”

Nguyễn Hoàng Linh Nguyễn Hoàng Linh - 14:08, 04/04/2024

Tạp chí Xây dựng - Bộ xây dựngChuyện xưa kể rằng có một thầy lang biết mình kém cỏi nên khi chữa bệnh, bao giờ cũng cẩn trọng mang sách ra để đối chiếu và xảy ra vụ việc cho bệnh nhân “đau bụng uống nhân sâm” vì quên đọc hai chữ “tắc tử” ở trang sau…

Trong các ngày 12 và 26/9/2023, Tòa án nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh đã mở phiên tòa phúc thẩm xét xử công khai vụ án “Tranh chấp đòi lại tài sản và yêu cầu vô hiệu hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất” và đã phán quyết công nhận quyền sở hữu ngôi nhà và quyền sử dụng đất của ông Lê Thanh Phong với những tài sản của dòng họ Lê để lại.

Nội dung bản án phúc thẩm khá dài nhưng ở đây, có 2 vấn đề cốt lõi mà cả bên nguyên đơn và bị đơn đều quan tâm, một là bà Lê Thị Xuyến đến nay có còn quyền và lợi ích trên mảnh đất của dòng họ Lê để lại hay không; hai là căn biệt thự kia hiện giờ thuộc tài sản của ai?

Trước hết về mảnh đất, xin trích nguyên văn phân tích của Tòa phúc thẩm trong bản án: “Năm 1993, bà Xuyến được Nhà nước cho phép xuất cảnh và định cư tại Hoa Kỳ theo diện đoàn tụ gia đình (ODP). Theo Quyết định số 121-CP ngày 19/3/1979 của Hội đồng Chính phủ thời điểm này cho phép những người có nguyện vọng ra nước ngoài để sum họp gia đình được xuất cảnh sau khi làm đầy đủ các thủ tục cần thiết như:

Chuyển giao tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của mình cho cha mẹ, vợ hoặc chồng, con ở lại trong nước. Vì vậy, bà Xuyến đã chuyển giao toàn bộ nhà đất thuộc thửa đất 148 cho người con nuôi của mình là ông Lê Thanh Phong tiếp tục quản lý, sử dụng; đây là thủ tục pháp lý quan trọng để bà Xuyến được phép xuất cảnh và định cư tại Hoa Kỳ.

Theo quy định pháp luật trên, kể từ thời điểm này, bà Lê Thị Xuyến không còn quyền sử dụng đất, quyền sở hữu đối với tài sản tại Việt Nam. Do đó, bà Lê Thị Xuyến cho rằng chỉ ủy quyền cho ông Phong là không phù hợp với thực tế, mà cần xác định thực chất của việc ủy quyền là tặng cho mới đúng ý chí của bà Xuyến”.

Theo phân tích trên đây thì với câu hỏi “bà Lê Thị Xuyến đến nay có còn quyền và lợi ích trên mảnh đất của dòng họ Lê để lại hay không” đã được Tòa phúc thẩm trả lời là “không”.

Xin trích nguyên văn Điều 4 Quyết định số 121-CP ngày 19/3/1979 của Hội đồng Chính phủ:

Điều 4. Những người được phép ra nước ngoài theo quyết định này được:

- Đem theo vật dùng cần thiết cho sinh hoạt hàng ngày.

- Đem theo tư trang, kim loại quý và đá quý theo qui định của Chính phủ Việt Nam.

- Chuyển giao tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của mình cho cha, mẹ, vợ, hoặc chồng, con ở lại trong nước. Nếu không có người thân kể trên ở trong nước thì giao tài sản đó cho chính quyền địa phương tạm thời quản lý theo thể lệ hiện hành.

- Hưởng quyền thừa kế tài sản theo pháp luật Việt Nam.

Chỉ cần có một chút kiến thức pháp lý cũng có thể hiểu rằng, đây là một trong những chính sách ưu việt của Chính phủ Việt Nam đối với bà con khi có nhu cầu xuất cảnh theo diện đoàn tụ gia đình và tính ưu việt này đều nằm ở từ “được” tại dòng đầu tiên của Điều 4. Từ “được” có ý nghĩa đây là quyền lợi mà người xuất cảnh đoàn tụ được hưởng. Đồng thời cũng có nghĩa là Tổ quốc Việt Nam luôn luôn để lại cánh cửa mong đón mọi người trở về chứ không thể hiểu theo cách ngược lại. Thậm chí, pháp luật còn quy định nếu không có người thân để chuyển giao thì tài sản đó giao cho chính quyền địa phương “tạm thời quản lý”. Từ “tạm thời” đã thể hiện rõ tinh thần đó.

Như vậy, làm sao có thể hiểu rằng “Kể từ thời điểm này, bà Lê Thị Xuyến không còn quyền sử dụng đất, quyền sở hữu đối với tài sản tại Việt Nam” như Tòa phúc thẩm nhận định? Làm sao có thể biến từ “chuyển giao” và “ủy quyền” thành từ “tặng cho” một cách áp đặt như vậy?

Việc quên mất từ “được” ở đây khiến người ta liên tưởng đến câu chuyện dân gian “đau bụng uống nhân sâm” mà quên mất 2 chữ “tắc tử” vậy. 

          Từ “được” có ý nghĩa đây là quyền lợi mà người xuất cảnh đoàn tụ được hưởng. Đồng thời cũng có nghĩa là Tổ quốc Việt Nam luôn luôn để lại cánh cửa mong đón mọi người trở về chứ không thể hiểu theo cách ngược lại.

Sang vấn đề cốt lõi thứ hai, đó là căn biệt thự kia hiện giờ thuộc tài sản của ai?

Đầu tiên cần xác định gốc gác của nó là ngôi nhà cấp 4 rộng 150m2, là tài sản của dòng họ Lê, mà theo trong gia phả, người quản lý là bà Lê Thị Xuyến đã được cụ Lê Quang Diệu tự tay ghi vào.

Tiếp theo là xác định nguồn tiền để xây cất mới. Tòa phúc thẩm cho rằng, dù bà Huỳnh Thị Thu Vân có nhận 57.000USD là tiền của bà Xuyến thật nhưng bà Xuyến không có tài liệu nào chứng minh được số tiền ấy đã được chuyển cho ông Phong xây nhà nên Tòa đã xác định căn biệt thự kia hiện giờ thuộc tài sản của ông Lê Thanh Phong.

Tuy nhiên, tại Tòa sơ thẩm lại phân tích trên cơ sở thu nhập hoa lợi và tiền làm công của người dân địa phương thời gian đó không phù hợp để tích lũy một tài sản lớn như vậy. Cùng kết hợp với bản khai trình bày ý kiến ngày 12/3/2018, bà Huỳnh Thị Thu Vân thừa nhận đây là tiền của bà Xuyến gửi về để xây nhà thờ Tổ và đã giao toàn bộ cho ông Lê Thanh Phong, Tòa đã phán quyết căn biệt thự kia hiện giờ thuộc tài sản của bà Lê Thị Xuyến…

Kỳ sau: Quyền ủy quyền và những hành vi “khách lấn chủ”

Ý kiến của bạn