Kỳ vọng từ tháo gỡ “điểm nghẽn” thể chế Kỳ vọng từ tháo gỡ “điểm nghẽn” thể chế

Kỳ vọng từ tháo gỡ “điểm nghẽn” thể chế

Metro Cát Linh - Hà Đông.

THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ CHỦ ĐỘNG TRONG HUY ĐỘNG, BỐ TRÍ VỐN

Tại Kỳ họp bất thường lần thứ 9, Quốc hội khóa XV, Quốc hội xem xét thông qua Nghị quyết thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù, đặc biệt để phát triển mạng lưới đường sắt đô thị tại TP Hà Nội và TP.HCM.

Theo Tờ trình về ban hành Nghị quyết, việc xây dựng Nghị quyết bảo đảm đơn giản hóa trình tự, thủ tục, trên quan điểm Trung ương xây dựng và ban hành cơ chế, chính sách, bảo đảm kiểm soát về mặt vĩ mô, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, rút ngắn trình tự, thủ tục để các địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm; huy động tối đa nguồn lực, tạo điều kiện thuận lợi để 2 thành phố thực hiện thành công mục tiêu phát triển hệ thống đường sắt đô thị hiện đại, bền vững.

Dự thảo Nghị quyết của Quốc hội gồm 11 Điều, quy phạm hóa 6 nhóm chính sách đặc thù, đặc biệt đã được cơ quan có thẩm quyền thông qua, gồm các nhóm chính sách về: (1) Huy động nguồn vốn; (2) trình tự, thủ tục thực hiện đầu tư; (3) phát triển đô thị theo mô hình TOD; (4) phát triển công nghiệp đường sắt, chuyển giao công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực; (5) chính sách VLXD và bãi đổ thải; (6) các quy định áp dụng riêng cho TP.HCM.

Trong đó, đối với nhóm chính sách về huy động nguồn vốn, trong quá trình chuẩn bị đầu tư, thực hiện đầu tư các dự án, nhằm bảo đảm cơ sở pháp lý, tạo chủ động, linh hoạt của Thủ tướng Chính phủ trong huy động, bố trí vốn cho các dự án; giảm thiểu thủ tục liên quan đến huy động nguồn vốn; bảo đảm nguồn vốn Trung ương hỗ trợ cho 2 thành phố và nguồn vốn ngân sách địa phương (NSĐP) trong các kỳ trung hạn để quyết định đầu tư dự án và hệ thống đường sắt đô thị; bảo đảm cơ sở pháp lý để bố trí vốn; bảo đảm bố trí vốn hoàn thành dự án; dự thảo Nghị quyết quy định Thủ tướng Chính phủ được quyết định cân đối, bố trí kế hoạch đầu tư công trung hạn, hàng năm vốn ngân sách Trung ương (NSTW) bổ sung có mục tiêu cho NSĐP, tối đa không vượt 215.350 tỷ đồng cho TP Hà Nội và tối đa không vượt quá 209.500 tỷ đồng cho TP.HCM trong các kỳ kế hoạch đầu tư công giai đoạn 2026 - 2030 và 2030 - 2035 làm cơ sở quyết định đầu tư và thực hiện đầu tư các dự án; Sử dụng nguồn tăng thu, tiết kiệm chi NSTW hằng năm và các nguồn vốn hợp pháp khác cho các dự án mà không phải thực hiện thứ tự ưu tiên theo quy định của pháp luật về NSNN; Huy động vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA), vốn vay ưu đãi nước ngoài để thực hiện các dự án và không phải lập Đề xuất dự án sử dụng vốn ODA, vốn vay ưu đãi nước ngoài theo quy định của pháp luật có liên quan...

HĐND Thành phố có trách nhiệm cân đối, bố trí kế hoạch đầu tư công trung hạn, hằng năm vốn NSĐP làm cơ sở quyết định đầu tư và thực hiện đầu tư các dự án thuộc danh mục kèm theo Nghị quyết này từ các nguồn: NSĐP trong các kỳ trung hạn và hằng năm; Nguồn tăng thu, tiết kiệm chi; Các nguồn vốn hợp pháp khác.

RÚT NGẮN TRÌNH TỰ THỰC HIỆN ĐẦU TƯ

Nhóm chính sách về trình tự, thủ tục thực hiện đầu tư, được quy định theo hướng là giải pháp đột phá về cơ chế, chính sách nhằm rút ngắn tiến độ trong công tác chuẩn bị dự án, trong đó không thực hiện bước lập, thẩm định, quyết định chủ trương đầu tư mà thực hiện ngay bước lập, thẩm định, quyết định đầu tư.

Từ thực tiễn của 2 thành phố cho thấy, công tác lập chủ trương đầu tư nhằm xác định sơ bộ sự cần thiết, quy mô, vị trí các tuyến đường sắt, tổng mức đầu tư, nguồn vốn với thời gian thực hiện công tác lập chủ trương đầu tư trung bình cần 3 - 5 năm, thậm chí một số dự án kéo dài hơn 5 năm. Trong khi đó, với đặc thù của 2 thành phố cho thấy: (1) sự cần thiết đầu tư các tuyến đường sắt đô thị đã được Đảng, Nhà nước, Chính phủ, Thành phố xác định trong các Nghị quyết và các quy hoạch; (2) nội dung các quy hoạch đã đủ điều kiện xác định sơ bộ quy mô, hướng tuyến và các thông số cơ bản của dự án; (3) nguồn vốn cho thực hiện dự án được quy định đầy đủ bảo đảm khả năng huy động và cân đối vốn cho các dự án.

Như vậy, các nội dung cần thiết của chủ trương đầu tư dự án đã được xác định nên có đủ điều kiện để triển khai ngay công tác lập dự án đầu tư; hơn nữa, nội dung này đã được nêu cụ thể trong Đề án Phát triển hệ thống mạng lưới đường sắt đô thị tại TP Hà Nội và TP.HCM đã được Bộ Chính trị thông qua tại Văn bản số 12766-CV/VPTW ngày 27/12/2024.

Theo đó, dự thảo Nghị quyết quy định dự án đường sắt đô thị, dự án đường sắt đô thị theo mô hình TOD được thực hiện ngay việc lập, thẩm định, quyết định đầu tư dự án và không phải thực hiện thủ tục lập, thẩm định, quyết định chủ trương đầu tư và các thủ tục khác có liên quan đến quyết định chủ trương đầu tư theo quy định của pháp luật có liên quan; UBND Thành phố được tổ chức lập, thẩm định, quyết định đầu tư và quyết định điều chỉnh dự án mà không phải lập, thẩm định, phê duyệt, điều chỉnh quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất theo quy định của pháp luật có liên quan; Trình tự, thủ tục lập, thẩm định, quyết định đầu tư và điều chỉnh dự án được thực hiện tương tự như dự án nhóm A do địa phương quản lý theo quy định của pháp luật có liên quan.

Dự án được lập thiết kế kỹ thuật tổng thể (FEED) thay thế cho thiết kế cơ sở trong Báo cáo nghiên cứu khả thi dự án; lựa chọn nhà thầu EPC trên cơ sở dự án đầu tư được phê duyệt chủ đầu tư, được quyết định phê duyệt đối với các bước thiết kế còn lại.

Đối với các hạng mục công việc có nhưng chưa phù hợp hoặc chưa có trong hệ thống định mức, đơn giá xây dựng, vận hành và bảo trì công trình, dự án được áp dụng hệ thống định mức xây dựng, giá xây dựng, vận hành và bảo trì do các tổ chức quốc tế công bố hoặc của các dự án tương tự trên thế giới và được quy đổi về thời điểm tính; Đối với các hạng mục không thể xác định chi phí, được phép xác định chi phí theo suất vốn đầu tư của dự án đường sắt tương tự trên thế giới và được quy đổi về thời điểm tính; Đối với các khoản mục chi phí chưa được quy định hoặc đã có quy định trong pháp luật Việt Nam nhưng chưa phù hợp, được áp dụng các khoản mục chi phí như các dự án có tính chất, điều kiện triển khai tương tự trên thế giới...

KHAI THÁC GIÁ TRỊ

TĂNG THÊM TỪ QUỸ ĐẤT KHU VỰC TOD

Nhằm xây dựng hành lang pháp lý rõ ràng để thực hiện đồng bộ các quy định về khu vực TOD giữa 2 thành phố; phân cấp, phân quyền để 2 thành phố lập, thẩm định, phê duyệt, điều chỉnh quy hoạch khu vực TOD; nâng cao hiệu quả sử dụng đất khu vực TOD và hiệu quả đầu tư tuyến đường sắt đô thị, rút ngắn thủ tục điều chỉnh quy hoạch khu vực TOD; Huy động nguồn lực từ khai thác giá trị tăng thêm từ quỹ đất khu vực TOD... dự thảo Nghị quyết quy định UBND Thành phố tổ chức lập, điều chỉnh quy hoạch khu vực TOD để xác định vị trí, ranh giới, diện tích đất thu hồi. Trong khu vực TOD, UBND Thành phố được quyết định các chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật, chỉ tiêu sử dụng đất quy hoạch khác với quy định tại quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về quy hoạch đô thị và nông thôn, nhưng phải bảo đảm đáp ứng về hệ thống hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội; UBND Thành phố được điều chỉnh chức năng sử dụng các khu vực đất trong khu vực TOD để khai thác quỹ đất và giá trị tăng thêm từ đất, phát triển các tuyến đường sắt đô thị, phát triển đô thị trong khu vực TOD.

Khi lập, điều chỉnh phương án tuyến công trình, vị trí công trình trên tuyến đường sắt đô thị quy hoạch khu vực TOD, UBND Thành phố được quyết định các nội dung khác với quy hoạch đô thị và nông thôn, quy hoạch sử dụng đất, kế hoạch sử dụng đất đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt. Quyết định phê duyệt phương án tuyến công trình, vị trí công trình trên tuyến đường sắt đô thị, quy hoạch khu vực TOD có giá trị thay thế cho phần nội dung điều chỉnh cục bộ quy hoạch khu vực có liên quan và không phải làm thủ tục điều chỉnh quy hoạch đã được phê duyệt trước đó.

Căn cứ quy hoạch khu vực TOD, UBND Thành phố được phép quyết định việc chuyển nhượng chỉ tiêu sử dụng đất quy hoạch giữa các dự án, công trình trong khu vực TOD mà không phải lập, điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất và kế hoạch sử dụng đất theo quy định của pháp luật liên quan; HĐND Thành phố quy định nội dung, trình tự, thủ tục thực hiện việc chuyển nhượng chỉ tiêu quy hoạch giữa các dự án, công trình trong khu vực TOD.

BỔ SUNG CHÍNH SÁCH ƯU TIÊN CHO ĐƯỜNG SẮT ĐÔ THỊ TẠI TP.HCM

Nhằm huy động nguồn vốn để phát triển hệ thống đường sắt đô thị, hệ thống giao thông công cộng, hạ tầng kỹ thuật kết nối với hệ thống vận tải hành khách công cộng; áp dụng hình thức lựa chọn nhà đầu tư dự án có sử dụng đất để chỉnh trang phát triển đô thị theo mô hình TOD; Phân cấp, phân quyền cho UBND TP.HCM được chủ trì tổ chức thẩm định và phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường giúp rút ngắn trình tự, thủ tục, đẩy nhanh tiến độ thực hiện dự án; Bên cạnh đó, hiện nay Luật Thủ đô 2024 đã có quy định một số cơ chế, chính sách ưu tiên cho đường sắt đô thị nhưng các nội dung này chưa được quy định trong Nghị quyết số 98/2023/ QH15 đối với TP.HCM.

Do đó, dự thảo Nghị quyết quy định một điều riêng đối với TP.HCM theo hướng, trong khu vực TOD, UBND Thành phố được thu và sử dụng 100% tiền thu đối với các khoản thu sau để phát triển hệ thống đường sắt đô thị, hệ thống giao thông công cộng, hạ tầng kỹ thuật kết nối với hệ thống vận tải hành khách công cộng: Tiền thu đối với diện tích sàn xây dựng tăng thêm của dự án xây dựng công trình dân dụng do việc tăng hệ số sử dụng đất và các chỉ tiêu quy hoạch khác của khu vực TOD; Tiền thu từ việc khai thác giá trị tăng thêm từ đất trong khu vực TOD; Phí cải thiện hạ tầng. HĐND Thành phố quy định chi tiết phương pháp xác định mức thu, thẩm quyền, trình tự, thủ tục thực hiện việc thu tiền.

UBND Thành phố được vay thông qua phát hành trái phiếu chính quyền địa phương, vay từ các tổ chức tài chính trong nước, các tổ chức khác trong nước và từ nguồn vay nước ngoài của Chính phủ vay về cho Thành phố vay lại và các hình thức huy động vốn hợp pháp khác. Tổng mức vay và bội chi ngân sách Thành phố hằng năm được Quốc hội quyết định trên cơ sở bảo đảm đủ nhu cầu nguồn vốn vay trong năm của Thành phố. Tổng dư nợ vay không vượt quá 120% số thu ngân sách Thành phố được hưởng theo phân cấp, trường hợp vượt quá thì Quốc hội xem xét, điều chỉnh tăng mức dư nợ vay phù hợp theo nhu cầu thực tế của Thành phố.

UBND Thành phố được phép tổ chức đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư dự án có sử dụng đất để chỉnh trang phát triển đô thị theo định hướng phát triển giao thông công cộng theo đồ án thiết kế đô thị riêng, đồ án quy hoạch đô thị vùng phụ cận các nhà ga thuộc tuyến đường sắt đô thị; thẩm định và phê duyệt báo cáo thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường; cấp Giấy phép môi trường trước khi dự án đường sắt đô thị, dự án đường sắt đô thị theo mô hình TOD vận hành thử nghiệm.

ĐẾN NĂM 2035 ĐẢM NHẬN KHOẢNG 40% THỊ PHẦN VẬN TẢI HÀNH KHÁCH

Theo Đề án phát triển hệ thống mạng lưới đường sắt đô thị tại TP Hà Nội và TP.HCM đã được Bộ Chính trị thông qua tại Văn bản số 12766-CV/VPTW ngày 27/12/2024, TP Hà Nội đến năm 2035 phấn đấu đưa vào khai thác thêm 7 tuyến, dài khoảng 397,8 km, đảm nhận 35 - 40% thị phần vận tải hành khách công cộng; sau năm 2035 phấn đấu đưa vào khai thác thêm 5 tuyến, kéo dài 4 tuyến, tổng chiều dài khoảng 200,7 km theo Quy hoạch Thủ đô và Quy hoạch chung xây dựng Thủ đô dự kiến điều chỉnh.

TP.HCM đến năm 2035 phấn đấu đưa vào khai thác 06 tuyến, dài khoảng 183 km, đảm nhận 30 - 40% thị phần vận tải hành khách công cộng; sau năm 2035 phấn đấu đưa vào khai thác thêm 4 tuyến kéo dài 5 tuyến tổng chiều dài khoảng 327 km theo Quy hoạch TP.HCM và Quy hoạch chung xây dựng TP.HCM.

Theo đó, dự thảo Nghị quyết của Quốc hội đồng thời ban hành cụ thể danh mục các dự án đường sắt đô thị do TP Hà Nội và TP.HCM đề nghị thí điểm, trong đó TP Hà Nội có 10 dự án đầu tư trước năm 2035 như: (1) Tuyến 1: Ngọc Hồi - Yên Viên - Như Quỳnh, gồm 2 đoạn: Ngọc Hồi - Yên Viên, Gia Lâm - Dương Xá; (2) Tuyến 2: Nội Bài - Thượng Đình - Bưởi, gồm 4 đoạn: Nam Thăng Long - Trần Hưng Đạo, Trần Hưng Đạo - Thượng Đình, Nam Thăng Long - Nội Bài và đoạn kéo dài đi Sóc Sơn; (3) Tuyến 2A: Cát Linh - Hà Đông - Xuân Mai, gồm 2 đoạn: Cát Linh - Hà Đông (đã đưa vào khai thác từ 06/11/2021) và đoạn kéo dài đi Xuân Mai; (4) Tuyến 3: Trôi - Nhổn - Yên Sở, gồm 3 đoạn: Nhổn - ga Hà Nội (một phần của đoạn này là đoạn Nhổn - Cầu Giấy đã đưa vào khai thác từ 08/8/2024), ga Hà Nội - Yên Sở (Hoàng Mai), Nhổn - Trôi và kéo dài đi Sơn Tây; (5) Tuyến 4: Mê Linh - Sài Đồng - Liên Hà; (6) Tuyến 5: Văn Cao - Hòa Lạc; (7) Tuyến 6: Nội Bài - Ngọc Hồi; (8) Tuyến 7: Mê Linh - Hà Đông; (9) Tuyến 8: Sơn Đồng - Mai Dịch - Vành đai 3 - Lĩnh Nam - Dương Xá; (10) Tuyến vệ tinh: Sơn Tây - Hòa Lạc - Xuân Mai.

TP Hà Nội đồng thời có các dự án đầu tư sau năm 2035 như: Tuyến 2 đoạn từ Trần Hưng Đạo - Chợ Mơ - ngã Tư Sở - Hoàng Quốc Việt; Tuyến 7, đoạn từ Mê Linh - Nội Bài; Tuyến 1A: Ngọc Hồi - sân bay thứ 2 phía Nam; Tuyến 9: Mê Linh, Cổ Loa - Dương Xá; Tuyến 10: Cát Linh - Láng Hạ - Lê Văn Lương - Yên Nghĩa; Tuyến 11: Vành đai 2 - trục phía Nam - sân bay thứ 2; Tuyến 12: kéo dài tuyến vệ tinh từ Xuân Mai đi Phú Xuyên.

TP.HCM có 7 dự án đầu tư trước năm 2035 như: (1) Tuyến 1: Suối Tiên - Bến Thành - An Hạ, gồm 2 đoạn: Bến Thành - Suối Tiên (đã hoàn thành, đưa vào khai thác từ 22/12/2024), Bến Thành - An Hạ; (2) Tuyến 2: Củ Chi - QL22 - An Sương - Bến Thành - Thủ Thiêm; (3) Tuyến 3: Hiệp Bình Phước - Bình Triệu - ngã 6 Cộng Hòa - Tân Kiên - An Hạ; (4) Tuyến 4: Đông Thạnh (Hóc Môn) - sân bay Tân Sơn Nhất - Bến Thành - Nguyễn Hữu Thọ - Khu đô thị Hiệp Phước; (5) Tuyến 5: Long Trường - Xa lộ Hà Nội - cầu Sài Gòn - Bảy Hiền - Đề pô Đa Phước; (6) Tuyến số 6: Vành đai trong; Tuyến số 7: Tân Kiên - đường Nguyễn Văn Linh - Thủ Thiêm - Thảo Điền - Thành Đa - Khu công nghệ cao - Vinhomes Grand Park.

TP.HCM cũng đồng thời có 3 dự án đầu tư sau năm 2035 như: (1) Tuyến 8: Đa Phước - Phạm Hùng - Ngô Gia Tự - ga Sài Gòn - công viên phần mềm Quang Trung - Hóc Môn - Bình Mỹ (Củ Chi); (2) Tuyến 9: An Hạ - Vĩnh Lộc - Ga Sài Gòn - Bình Triệu; (3) Tuyến 10: Vành đai ngoài.

Sau khi Quốc hội ban hành Nghị quyết, HĐND 2 thành phố sẽ ban hành các Nghị quyết hướng dẫn một số nội dung của Nghị quyết này theo thẩm quyền; Chính phủ ban hành các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn việc tổ chức thực hiện các cơ chế, chính sách về phát triển công nghiệp đường sắt và chuyển giao công nghệ áp dụng chung cho cả đường sắt quốc gia và đường sắt đô thị.

Thế Công