Công dân Nguyễn Văn Hùng cho biết: Tôi đang sinh sống và làm việc tại TP Hà Nội, hộ khẩu tại tỉnh khác và có đăng ký tạm trú lâu dài tại Hà Nội. Tôi đang có nhu cầu mua NƠXH và đang làm giáo viên mầm non tại một nhóm trẻ, lớp mầm non tư thục hoạt động dựa trên quyết định thành lập của UBND phường và có tham gia BHXH hàng tháng.
Tuy nhiên, nhóm lớp không có đăng ký kinh doanh và con dấu tròn pháp nhân. Vậy tôi có thuộc đối tượng người thu nhập thấp tại khu vực đô thị có hợp đồng lao động hay không? Nếu thuộc đối tượng trên thì chủ nhóm trẻ, nhóm lớp chỉ ký xác nhận các biểu mẫu để chứng minh thu nhập, chứng minh đối tượng và bảng lương mà không có con dấu pháp nhân thì có được coi là hợp lệ?.
Nếu không hợp lệ thì tôi cần phải làm như thế nào? Vì thực tế là tôi đang sinh sống và làm việc ổn định tại Hà Nội, không thể xếp tôi vào dạng lao động tự do được. Và quy định về đối tượng người thu nhập thấp tại khu vực đô thị có hợp đồng lao động là như thế nào?
Về nội dung này, Cục Quản lý nhà và thị trường bất động sản (Bộ Xây dựng) có ý kiến như sau:
Tại khoản 5 Điều 76 Luật Nhà ở năm 2023 quy định đối tượng được hưởng chính sách hỗ trợ về NƠXH như sau: “5. Người thu nhập thấp khu vực đô thị”.
Tại khoản 1 Điều 78 Luật Nhà ở năm 2023 quy định đối tượng quy định tại khoản 1, 4, 5, 6, 7, 8, 9 và 10 Điều 76 đáp ứng điều kiện về nhà ở và điều kiện về thu nhập quy định tại khoản này thì được mua, thuê mua NƠXH.
Ngày 07/4/2026, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 136/2026/NĐ-CP về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 100/2024/NĐ-CP ngày 26/7/2024 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Nhà ở về phát triển và quản lý NƠXH (đã được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 261/2025/NĐ-CP và Nghị định số 54/2026/NĐ-CP) quy định như sau:
“1. Đối với các đối tượng quy định tại các khoản 5, 6 và 8 Điều 76 của Luật Nhà ở thì phải đảm bảo điều kiện về thu nhập sau đây:
a) Trường hợp người đứng đơn là người chưa kết hôn hoặc được xác nhận là độc thân thì có thu nhập bình quân hàng tháng thực nhận không quá 25 triệu đồng tính theo Bảng tiền công, tiền lương do cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp nơi đối tượng làm việc xác nhận.
Trường hợp người đứng đơn là người chưa kết hôn hoặc được xác nhận là độc thân đang nuôi con dưới tuổi thành niên thì thu nhập bình quân hàng tháng thực nhận không quá 35 triệu đồng tính theo Bảng tiền công, tiền lương do cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp nơi đối tượng làm việc xác nhận.
b) Trường hợp người đứng đơn đã kết hôn theo quy định của pháp luật thì người đứng đơn và vợ (chồng) của người đó có tổng thu nhập bình quân hàng tháng thực nhận không quá 50 triệu đồng tính theo Bảng tiền công, tiền lương do cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp nơi đối tượng làm việc xác nhận.”
Tại Mẫu số 01a của Thông tư số 32/2025/TT-BXD ngày 10/11/2025 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 05/2024/TT-BXD ngày 31/7/2024 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng quy định chi tiết một số điều của Luật Nhà ở (được sửa đổi, bổ sung tại Thông tư số 08/2026/TT-BXD ngày 15/2/2026 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng).
Trong đó, giấy tờ chứng minh đối tượng, thu nhập để được hưởng chính sách hỗ trợ về NƠXH (áp dụng cho các đối tượng quy định tại các khoản 5, 6, 8 Điều 76 của Luật Nhà ở, trừ đối tượng quy định tại khoản 5 Điều 76 của Luật Nhà ở không có hợp đồng lao động, không được hưởng lương hưu do cơ quan Bảo hiểm xã hội chi trả) do cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp nơi người kê khai đang làm việc thực hiện xác nhận và phải ký tên đóng dấu (có tư cách pháp nhân) theo Mẫu này.
Bộ Xây dựng xin ghi nhận ý kiến của công dân để tổng hợp, nghiên cứu hoàn thiện các quy định pháp luật về nhà ở trong thời gian tới.

Theo quy định, giấy tờ chứng minh đối tượng, thu nhập để được hưởng chính sách hỗ trợ về NƠXH do cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp nơi người kê khai đang làm việc thực hiện xác nhận và phải ký tên đóng dấu (có tư cách pháp nhân) theo mẫu. 

