1. Giới thiệu
Sức ép gia tăng lên môi trường nước ở Việt Nam trong bối cảnh đô thị hóa nhanh, phát triển mạnh dịch vụ - du lịch và sự mở rộng của các khu dân cư ven đô đã khiến vấn đề kiểm soát nước thải sinh hoạt quy mô nhỏ trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết.
Nhiều khu vực không có điều kiện đầu tư hệ thống xử lý nước thải tập trung, trong khi nước thải phát sinh từ nhà ở riêng lẻ, cơ sở kinh doanh, dịch vụ, công trình công cộng và điểm du lịch lại chỉ được xử lý sơ bộ một phần bằng bể tự hoại rồi xả trực tiếp ra môi trường.
Mô hình xử lý nước thải tại chỗ vì vậy trở thành một cấu phần quan trọng trong bảo vệ môi trường và sức khỏe cộng đồng, đồng hành và lấp khoảng trống cho các hệ thống tập trung.
Khung quản lý hiện nay ở Việt Nam kết hợp giữa quy chuẩn bắt buộc và tiêu chuẩn hướng dẫn. Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 98:2025/BNNMT xác định các yêu cầu kỹ thuật tối thiểu và giá trị giới hạn ô nhiễm đối với công trình, thiết bị xử lý nước thải tại chỗ [1].
Bên cạnh đó, tiêu chuẩn TCVN 14396:2025 cung cấp khung hướng dẫn thiết kế, lựa chọn công nghệ, kiểm tra chất lượng bể và yêu cầu vận hành cho các hệ thống xử lý tại chỗ, chuyển hóa các yêu cầu pháp lý thành giải pháp kỹ thuật cụ thể [2].
Bài báo phân tích nội dung của hai văn bản này; làm rõ các giới hạn quy chuẩn được xây dựng dựa trên cấu hình công nghệ; so sánh định tính với một số tiêu chuẩn quốc tế; và thảo luận các chính sách nhằm nâng cao tính khả thi trong quá trình triển khai thực tế.
2. Vật liệu và phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu áp dụng phương pháp phân tích định tính các tài liệu chính thống. QCVN 98:2025/BNNMT và TCVN 14396:2025 được phân tích theo các nội dung như phạm vi áp dụng, yêu cầu kỹ thuật, giới hạn ô nhiễm, cấu trúc công trình/thiết bị và yêu cầu vận hành, bảo dưỡng.
Các giá trị giới hạn của nước thải sau xử lý theo từng nhóm công suất theo QCVN được đối chiếu với các loại hình công nghệ được nêu trong TCVN, cũng như tham khảo các nước, các công trình liên quan đã công bố. Bảng ma trận lựa chọn công nghệ theo từng đối tượng sử dụng cũng được đề xuất. Bài báo cũng nhận diện xu hướng tiếp cận của quy chuẩn, tiêu chuẩn quốc gia và đề xuất khoảng trống cần hoàn thiện.
3. Kết quả và thảo luận
3.1. Phạm vi điều chỉnh của QCVN/TCVN
Cả QCVN 98:2025/BNNMT và TCVN 14396:2025 đều có phạm vi điều chỉnh đối với công trình, thiết bị xử lý nước thải tại chỗ, áp dụng cho các tổ chức, cá nhân phát sinh nước thải sinh hoạt tại nhà ở, cơ sở kinh doanh, dịch vụ, khu du lịch, nhà ga, bến xe, bến tàu, bến cảng và nhiều loại hình khác có thành phần, tính chất nước thải tương tự như nước thải sinh hoạt [1][3].
Quy chuẩn 98:2025/BNNMT nhấn mạnh rằng trường hợp phát sinh nước thải công nghiệp thì phải xử lý theo quy định riêng [1]. TCVN 14396:2025 mô tả hệ thống xử lý nước thải tại chỗ là các công trình, thiết bị xử lý nước thải “được thực hiện ngay trong khuôn viên của tổ chức, cá nhân có phát sinh nước thải” [3].
Với tiêu chuẩn, ở trường hợp riêng, khi có chất độc hại trong nước thải, cần thiết phải xử lý sơ bộ để đảm bảo công trình, thiết bị xử lý nước thải tại chỗ hoạt động ổn định, tránh bị sốc [3].
3.2. Yêu cầu kỹ thuật cơ bản của công trình xử lý tại chỗ
QCVN 98:2025/BTNMT yêu cầu công trình phải đảm bảo an toàn kết cấu, không thấm, không rò rỉ, không phát tán mùi hôi và không tạo tiếng ồn vượt chuẩn. Công trình phải được bố trí ở vị trí chắc chắn, thuận lợi cho việc kiểm tra và hút bùn.
QCVN nhấn mạnh rằng công trình phải được xây dựng trên nền đất ổn định, chống thấm, có nắp kiểm tra và thiết bị thông hơi, đồng thời đảm bảo khoảng cách an toàn tới công trình cấp nước, giếng khoan và nhà ở. Quy chuẩn cũng yêu cầu vùng lưu không trên mặt nước phải đạt tối thiểu 20% dung tích hữu dụng để giảm nguy cơ tràn và sốc tải [1].
Tiêu chuẩn đóng vai trò là tài liệu hướng dẫn kỹ thuật cho việc thiết kế và lựa chọn giải pháp công nghệ đáp ứng các yêu cầu của quy chuẩn. TCVN 14396:2025 làm rõ chi tiết cấu tạo bể tự hoại, các thông số thiết kế.
Một điểm mới của TCVN 14396:2025 là đưa ra công thức tính toán kích thước bể tự hoại, bao gồm kích thước vùng lưu không, vùng lắng, vùng chứa cặn (bao gồm cặn tươi và cặn đã tích lũy) và váng nổi, có tính đến số người sử dụng, tiêu chuẩn thải nước (vào bể), thời gian lưu nước tối thiểu, hệ số không điều hòa, nhiệt độ nước thải và thời gian giữa 2 lần hút cặn [3].
Công thức này đã được kế thừa và phát triển, tổng hợp từ các kết quả nghiên cứu khác nhau, và đã được kiểm chứng thực tế khắc phục hạn chế của cách xác định dung tích bể theo kinh nghiệm từ trước đến nay hay áp dụng (dẫn đến dung tích quá nhỏ hoặc quá lớn), cũng như của quy chuẩn hệ thống cấp thoát nước trong công trình ban hành từ năm 1999 (dung tích lớn hơn cần thiết) [7][9].
TCVN quy định dung tích ướt tối thiểu 3 m³ cho bể tự hoại hộ gia đình xử lý cả nước đen và nước xám, 1,5 m³ cho bể tự hoại hộ gia đình xử lý nước đen [3][9]. Giá trị này để đảm bảo bể tự hoại phát huy tối đa hiệu suất tách cặn, chất nổi và ổn định cặn lắng, vừa không quá tốn kém (nếu dung tích bể lớn), vừa tránh phải hút bùn thường xuyên (nếu dung tích bể nhỏ), đồng thời khắc phục bất cập của TCVN 10334:2014, Bể tự hoại bê tông cốt thép thành mỏng đúc sẵn dùng cho nhà vệ sinh (đưa ra quy cách bể tự hoại có dung tích quá nhỏ, dẫn đến việc phải hút bùn thường xuyên hoặc cặn bị trôi ra ngoài theo nước) [4].
Tiêu chuẩn cũng đưa vào cách quy đổi dân số tương đương, chọn hệ số không điều hòa và quy cách thiết kế các loại bể tự hoại cải tiến, bể tách mỡ, hào lọc, bãi lọc trồng cây, công trình/thiết bị xử lý nước thải công suất nhỏ với bùn hoạt tính và bể lọc sinh học các loại (bùn hoạt tính thông thường, bể MBBR, bể IFAS, bể SBR, bể MBR, bể lọc sinh học…). Tiêu chuẩn nhấn mạnh việc khử trùng đối với hệ thống từ 2 m³/ngày trở lên nhằm kiểm soát mầm bệnh [3].
Bên cạnh các quy định cụ thể cho nhiều công trình, thiết bị xử lý tại chỗ mà TCVN 7957:2023 không đề cập, TCVN 14396:2025 có bổ sung các yêu cầu về vật liệu bể, bố trí đường ống ra vào, thiết bị khử trùng và đường ống thoát khí, các yêu cầu đối với các thiết bị cơ - điện, cũng như các yêu cầu vận hành, bảo trì, thu gom và xử lý bùn [3].
Các quy định cụ thể về độ kín, khả năng chống thấm, đặc tính cơ học đối với bể nước thải chế tạo sẵn có vỏ bể bằng bê tông cốt thép, bằng vật liệu nhựa tổng hợp khác nhau (Polyvinyl Chloride - PVC; Polyvinyl Chloride Unplasticized - PVC-U; Polyethylene - PE; Polypropylene - PP; Polydicyclopentadiene - PDCPD; Glassfiber Reinforced Plastic - GRP; Sheet Moulding Compound - SMC) cũng được TCVN 14396 trình bày chi tiết (được biên soạn chủ yếu dựa trên tiêu chuẩn EN 12566) [3][5].
Đây là cơ sở quan trọng để các nhà sản xuất và các cơ sở tiêu chuẩn - đo lường - chất lượng triển khai việc đánh giá, kiểm định, công nhận sự phù hợp tiêu chuẩn của sản phẩm.
3.3. Giới hạn đầu ra và lựa chọn công nghệ theo nhóm công suất
Đối với hệ thống có công suất nhỏ hơn 2 m³/ngày, QCVN 98:2025 quy định BOD5 ≤ 130 mg/L hoặc COD ≤ 200 mg/L (chọn thông số BOD5 hoặc COD) và TSS ≤ 120 mg/L, phù hợp với điều kiện của đại đa số các hộ gia đình [1]. Các loại bể tự hoại có ngăn lọc, hay lõi lọc tháo lắp được, hoặc bể tự hoại cải tiến và công trình có chức năng tương tự có thể cho phép đạt giới hạn này.
Khi công suất nằm trong khoảng 2-20 m³/ngày, các giới hạn nghiêm ngặt hơn: BOD5 ≤ 60 mg/L, COD ≤ 100 mg/L, TSS ≤ 70 mg/L, tổng nitơ ≤ 40 mg/L, tổng phốt pho ≤ 8 mg/L, dầu mỡ ≤ 20 mg/L và tổng coliform ≤ 5.000 MPN/100 mL [1]. Cần thiết áp dụng các công trình sinh học bậc hai (kỵ khí hay thiếu khí + hiếu khí) và các giải pháp khử trùng [7][8]][9].
Khi công suất từ 20 m³/ngày trở lên, hệ thống xử lý tại chỗ phải đáp ứng tương đương QCVN 14:2025/BTNMT dành cho nước thải sinh hoạt, với BOD5 thường ở mức 30-40 mg/L tùy thuộc nguồn tiếp nhận. Yêu cầu chất lượng nước thải sau xử lý tiệm cận hoặc tương đương các quy chuẩn nước thải sinh hoạt tập trung [2].
Hình 1, 2 và Bảng 1 dưới đây gợi ý lựa chọn công nghệ xử lý phù hợp theo “đối tượng thải nước” và “dải công suất”, tuân thủ thiết kế theo TCVN và đạt giới hạn theo QCVN.
Bảng 1. Lựa chọn dây chuyền công nghệ theo đối tượng sử dụng và dải công suất

Hình 3 dưới đây giới thiệu một số công trình, thiết bị xử lý nước thải tại chỗ được áp dụng trên thực tế.
3.4. So sánh với tiêu chuẩn các nước
Các hệ thống xử lý nước thải quy mô nhỏ ở châu Âu được cấp chứng nhận theo EN 12566-3 phải chứng minh hiệu suất xử lý ổn định dưới điều kiện thử nghiệm chuẩn, với mức độ xử lý tương đương hoặc vượt yêu cầu xử lý thứ cấp [5]. EN 12566-3 cũng chính là cơ sở để TCVN 14396:2025 xây dựng các yêu cầu về chất lượng bể về mặt kết cấu, độ bền.
Cách tiếp cận của Mỹ, xác định ngưỡng giới hạn về tải lượng chất bẩn theo từng nguồn tiếp nhận, là một cách tiếp cận thực dụng và hiệu quả trong kiểm soát ô nhiễm nước. Tuy nhiên, trong điều kiện của Việt Nam, cách tiếp cận này khó khả thi. Đồng thời, yêu cầu đối với các công trình/thiết bị xử lý nước thải tại chỗ cũng cần đồng bộ với các hệ thống xử lý nước thải quy mô vừa và lớn. Do vậy, cách tiếp cận xác định giá trị giới hạn theo nồng độ chất ô nhiễm đầu ra là phù hợp.
Cả QCVN 98:2025/BNNMT lẫn TCVN 14396:2025 đều gắn dải công suất với yêu cầu chất lượng, theo hướng dòng thải có lưu lượng và tải lượng lớn thì yêu cầu càng nghiêm ngặt, nhưng vẫn để mở cho nhiều cấu hình công nghệ khác nhau. Các dòng thải lớn hơn thì yêu cầu kiểm soát nhiều thông số hơn.
Với dải công suất < 2 m³/ngày, mức yêu cầu đầu ra của Việt Nam còn thấp hơn so với nhiều nước phát triển, cho phép tiếp tục sử dụng bể tự hoại nhưng cần bổ sung thêm ngăn lọc hay bãi lọc ngầm [3][9]. Điều này phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội hiện nay, nhưng cũng chỉ ra yêu cầu phải cải thiện hệ thống xử lý tại chỗ, từng bước nâng cao yêu cầu để đáp ứng mục tiêu dài hạn là tái sử dụng nước sau xử lý hoặc bảo vệ các nguồn nước nhạy cảm.
Với dải công suất 2 ≤ Q < 20 m³/ngày và Q ≥ 20 m³/ngày, các giá trị giới hạn của Việt Nam có thể coi như tương đồng với tiêu chuẩn các nước, đòi hỏi phải xử lý bậc 2 và khử trùng trước khi xả ra nguồn tiếp nhận (châu Âu, Hoa Kỳ, Trung Quốc) [5][6][7][8]. Đặc biệt, so với GB 18918-2002 của Trung Quốc, mức yêu cầu của Việt Nam ở dải này gần với Class 1B (BOD₅ < 20 mg/L), thấp hơn Class 1A (BOD₅ < 10 mg/L) nhưng vẫn đòi hỏi dây chuyền xử lý sinh học hoàn chỉnh. Các công nghệ AO hay A2O, MBBR hay IFAS, SBR, thậm chí MBR đều là những lựa chọn tiềm năng, tương tự các hệ thống được khuyến cáo trong hướng dẫn của US EPA và nhiều nước khác [7][8][10].
Cần lưu ý rằng việc lựa chọn công nghệ không thể chỉ tính theo chi phí đầu tư ban đầu, mà phải cân nhắc cả hiệu quả vận hành, độ tin cậy và khả năng đáp ứng yêu cầu giám sát lâu dài, trong khi nhiều hệ thống xử lý nước thải tại chỗ không được quản lý vận hành bởi các đơn vị có chuyên môn, chuyên nghiệp, ở khoảng cách xa.
3.5. Các vấn đề thảo luận khác
QCVN 98:2025/BNNMT và TCVN 14396:2025 đã đưa Việt Nam tiến khá gần với thông lệ quốc tế về quản lý nước thải sinh hoạt quy mô nhỏ, nhất là ở dải công suất từ 2 m³/ngày trở lên. Ưu điểm chính là sự phối hợp giữa “khung pháp lý” quy định giá trị giới hạn và “hướng dẫn kỹ thuật” về lựa chọn - thiết kế công nghệ. Tiêu chuẩn giúp người sử dụng, từ hộ gia đình đến cơ sở dịch vụ, cơ quan, công trình công cộng, tổ hợp văn phòng, … và nhà thầu lựa chọn dây chuyền xử lý phù hợp với quy mô và đặc thù xả thải, cũng như đưa xây dựng có kế hoạch vận hành và bảo dưỡng hợp lý.
Với sự quan tâm của các cơ quan quản lý, sau khi QCVN 98:2025/BTNMT và TCVN 14396:2025 được ban hành, có thể kỳ vọng từng bước hình thành một “ngành công nghiệp” liên quan đến xử lý nước thải tại chỗ. Bên cạnh vai trò của chủ đầu tư, người sử dụng, các nhà thầu thiết kế, chế tạo, thi công và lắp đặt, còn có sự tham gia của các cơ quan quản lý nhà nước trong các lĩnh vực môi trường, xây dựng, quản lý thị trường và bảo vệ người tiêu dùng.
Ngoài ra, chuỗi giá trị này còn bao gồm các bên liên quan khác như nhà cung cấp thiết bị và vật tư; các đơn vị cung cấp dịch vụ vận hành - bảo trì (hút và vận chuyển bùn, bảo dưỡng thiết bị, giám sát chất lượng nước); hoạt động xử lý bùn; giám sát vận hành và bảo dưỡng hệ thống từ xa theo thời gian thực; cùng các cơ sở kiểm định, đánh giá hợp chuẩn.
Cách Việt Nam lựa chọn hướng tiếp cận “xử lý đến mức thứ cấp cho dải công suất > 2 m³/ngày” cho thấy sự linh hoạt trong xây dựng quy định kỹ thuật, đồng thời mở ra nhiều cơ hội và giải pháp công nghệ khác nhau, bao gồm cả các công nghệ chi phí thấp và theo hướng sinh thái.
Điều này góp phần tạo điều kiện để các dự án xử lý nước thải tại chỗ được hiện thực hóa và phát triển bền vững, qua đó bổ trợ và lấp đầy khoảng trống tại những khu vực mà hệ thống thu gom, xử lý nước thải tập trung khó khả thi.
So sánh với Hoa Kỳ, EU, Trung Quốc và một số nước, Việt Nam đang ở vị trí trung gian: nghiêm ngặt hơn nhiều nước đang phát triển, nhưng chưa đạt đến mức giới hạn chặt về BOD₅, TSS, N, P và vi sinh ở các khu vực nhạy cảm (như Class 1A của Trung Quốc hoặc các tiêu chuẩn nâng cao ở EU, Hoa Kỳ).
Chính quyền địa phương cần lưu ý nâng chuẩn, áp dụng giới hạn nghiêm ngặt hơn cho các khu vực quan trọng, nhạy cảm sinh thái. Các khu dân cư thu nhập thấp cần được hỗ trợ tài chính để nâng cấp các hệ thống thu gom và xử lý nước thải. Những nơi gặp khó khăn triển khai về kỹ thuật cần có sự linh hoạt khi áp dụng công nghệ - kỹ thuật phù hợp.
Thị trường thiết bị xử lý nước thải chế tạo sẵn hiện vẫn thiếu cơ chế chứng nhận hợp chuẩn, dẫn tới nguy cơ xuất hiện các sản phẩm kém chất lượng trên thị trường. Mặt khác, không ít hệ thống xử lý tại chỗ đạt yêu cầu tại thời điểm đánh giá hợp chuẩn, hợp quy nhưng sau đó nhanh chóng xuống cấp do thiếu mô hình quản lý và cơ chế tài chính phù hợp, gắn với kế hoạch giám sát, bảo trì và hút bùn định kỳ.
Do đó, việc kiểm soát hệ thống trong suốt vòng đời dự án là một nội dung cần được đặc biệt quan tâm. Cần bổ sung cơ chế hậu kiểm, quy định rõ trách nhiệm vận hành dài hạn, đồng thời triển khai các chương trình đào tạo vận hành đơn giản cho hộ gia đình và chủ cơ sở. Các dịch vụ vận hành, bảo trì, hút và xử lý bùn theo mô hình PPP quy mô nhỏ có thể được xem xét áp dụng.
Bên cạnh đó, khung pháp lý mới chỉ tập trung kiểm soát ô nhiễm mà chưa có hướng dẫn cho tái sử dụng nước sau xử lý trong khuôn viên (tưới cây, rửa sân, xả toilet, …), tái sử dụng bùn thải (tại chỗ hay tập trung) từ các hệ xử lý nước thải tại chỗ. Cần tiếp tục xây dựng và ban hành các quy chuẩn, tiêu chuẩn liên quan để khuyến khích xu hướng thu hồi, tái tạo tài nguyên.
4. Kết luận
Nhóm nghiên cứu đã phân tích mối quan hệ giữa QCVN 98:2025/BNNMT và TCVN 14396:2025 trong quản lý và thiết kế công trình, thiết bị xử lý nước thải tại chỗ ở Việt Nam, qua đó làm rõ yêu cầu kỹ thuật, giới hạn đầu ra theo dải công suất và cách thức lựa chọn dây chuyền công nghệ.
So sánh với tiêu chuẩn Hoa Kỳ, châu Âu và Trung Quốc cho thấy các yêu cầu của Việt Nam ở dải công suất 2 ≤ Q < 20 m³/ngày và Q ≥ 20 m³/ngày đã tiệm cận mức xử lý thứ cấp của các nước, áp dụng các công nghệ xử lý sinh học bậc hai và bậc ba cùng với khử trùng, trong khi chấp nhận nâng cấp một phần cho dải công suất Q < 2 m³/ngày với bể tự hoại hiện có bằng ngăn lọc, lõi lọc, bãi lọc ngầm để phù hợp với đại đa số các hộ gia đình ở Việt Nam trong giai đoạn trước mắt, đồng thời hướng tới việc nâng cấp hệ thống thoát nước trong tương lai (nâng cấp hoặc thay thế bể tự hoại, hay chuyển từ thoát nước chung sang thoát nước riêng).
Để tăng tính khả thi và hiệu quả môi trường, cần thiết phải nhanh chóng hoàn thiện cơ chế chứng nhận hợp chuẩn, quy trình kiểm định thiết bị xử lý chế tạo sẵn tương tự EN 12566 và các nước phát triển; khuyến khích hình thành các dịch vụ vận hành, bảo trì và giám sát; đồng thời tích hợp các mục tiêu tái sử dụng nước và thu hồi tài nguyên vào các quy chuẩn và tiêu chuẩn mới, để xử lý nước thải tại chỗ góp phần hữu hiệu trong kiểm soát ô nhiễm và thực thi kinh tế tuần hoàn.
* Tiêu đề do Tòa soạn đặt - Mời xem file PDF tại đây
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1]. QCVN 98:2025/BNNMT - Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về công trình, thiết bị xử lý nước thải tại chỗ. Bộ Nông nghiệp và Môi trường (2025).
[2]. QCVN 14:2025/BTNMT - Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải sinh hoạt và nước thải đô thị.
[3]. TCVN 14396:2025 - Công trình, thiết bị xử lý nước thải tại chỗ: Yêu cầu thiết kế. Bộ Khoa học và Công nghệ (2025).
[4]. TCVN 10334:2014, Bể tự hoại bê tông cốt thép thành mỏng đúc sẵn dùng cho nhà vệ sinh.
[5]. European Committee for Standardization. (2016). EN 12566-3: Small wastewater treatment systems for up to 50 PT - Packaged and/or site assembled domestic wastewater treatment plants.
[6]. GB 18918-2002 - Discharge standard of pollutants for municipal wastewater treatment plant. Ministry of Ecology and Environment of the People’s Republic of China. (2002).
[7]. United States Environmental Protection Agency. (2002). Onsite wastewater treatment systems manual (EPA/625/R-00/008). Washington, DC, USA.
[8]. Li, W.-W., Sheng, G.-P., Zeng, R. J., Liu, X.-W., & Yu, H.-Q. (2012). China’s wastewater discharge standards in urbanization: Evolution, challenges and implications. Environmental Science and Pollution Research, 19, 1422-1431.
[9]. Nguyễn Việt Anh (2017). Bể tự hoại. NXB Xây dựng.
[10]. Schellenberg, T., Subramanian, V., Ganeshan, P., Tompkins, D., & Pradeep, R. (2020). Wastewater discharge standards in the evolving context of urban sustainability - The case of India. Frontiers in Environmental Science, 8, 30.

Làm thế nào để hệ thống xử lý nước thải tại chỗ vừa đạt hiệu quả môi trường, vừa tuân thủ nghiêm ngặt các bộ quy chuẩn mới ban hành? Bằng phương pháp so sánh thực tiễn với các quốc gia tiên tiến, nhóm tác giả đưa ra những kiến nghị quan trọng về việc lựa chọn thiết bị và công nghệ, góp phần nâng cao tính khả thi cho các công trình xây dựng hiện nay. 

