Khác so với quy định chung theo hướng nào?
Góp ý về cơ chế áp dụng tỷ lệ bảo đảm an toàn khác so với quy định chung nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, đại biểu Dương Khắc Mai - Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Lâm Đồng cho rằng ,quy định trong dự thảo còn rộng.
Theo đại biểu, trước hết cần làm rõ “tỷ lệ an toàn khác” khác với mức thông thường như thế nào. Nếu cho phép áp dụng tỷ lệ thấp hơn, đây thực chất là cơ chế nới chuẩn an toàn, có thể ảnh hưởng đến khả năng chịu đựng của tổ chức tín dụng và toàn hệ thống. Vì vậy, phạm vi áp dụng phải được giới hạn ngay trong Luật.
Đại biểu Dương Khắc Mai cũng đề nghị làm rõ cụm từ “để thực hiện yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội”, bởi hầu hết hoạt động tín dụng đều có thể được giải thích là phục vụ mục tiêu này. Cơ chế đặc thù chỉ nên áp dụng trong trường hợp thật sự cần thiết, gắn với chương trình, dự án hoặc nhiệm vụ quan trọng theo chủ trương của Đảng và Nhà nước.
Cùng quan tâm đến nguy cơ hạ chuẩn, đại biểu Nguyễn Hải Nam - Đoàn đại biểu Quốc hội TP Huế đề nghị xác định rõ tỷ lệ bảo đảm an toàn khác so với quy định chung được điều chỉnh theo hướng nào. Nếu áp dụng theo hướng an toàn hơn thì không phát sinh nhiều lo ngại. Ngược lại, nếu theo hướng ít an toàn hơn, quy định có thể dẫn đến việc áp dụng thiếu thống nhất, bị lợi dụng hoặc tạo ra cạnh tranh không lành mạnh.
Đại biểu Nguyễn Hải Nam đề nghị Luật xác định nguyên tắc kiểm soát rủi ro, thẩm quyền quyết định, đối tượng, phạm vi, điều kiện và thời hạn áp dụng. Cơ chế đặc thù cũng phải đi kèm yêu cầu công khai, báo cáo, thanh tra và giám sát.
Ở góc nhìn khác, đại biểu Nguyễn Thanh Tùng - Đoàn đại biểu Quốc hội TP.HCM cho rằng, cần trao cho Ngân hàng Nhà nước sự chủ động cần thiết. Hoạt động ngân hàng có khả năng tác động nhanh, phạm vi lan rộng và có thể tạo hiệu ứng dây chuyền. Trong từng trường hợp cụ thể, một số tỷ lệ có thể được điều chỉnh, nhưng tổng thể vẫn phải bảo đảm an toàn cho từng tổ chức tín dụng và toàn hệ thống.
Đại biểu Lê Thị Thúy Sen - Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Hưng Yên cũng đồng tình với việc tạo thêm dư địa cung ứng tín dụng trong bối cảnh nhu cầu vốn cho tăng trưởng và các dự án lớn rất cao. Tuy nhiên, tổ chức tín dụng được áp dụng cơ chế này phải chịu sự kiểm soát của cơ quan thanh tra, giám sát và kiểm toán; sau thời gian áp dụng phải trở lại tuân thủ quy định chung.
Phân biệt thanh toán bằng ngoại tệ với tham chiếu giá trị
Đối với quy định về sử dụng ngoại hối trên lãnh thổ Việt Nam, đại biểu Dương Khắc Mai cho rằng, cụm từ “các hình thức tương tự khác” chưa có ranh giới pháp lý rõ ràng. Cách quy định này có thể dẫn đến cách hiểu rằng, việc dùng ngoại tệ làm đơn vị tham chiếu hoặc làm cơ sở điều chỉnh giá cũng bị hạn chế, dù nghĩa vụ thanh toán cuối cùng được thực hiện bằng đồng Việt Nam.
Theo đại biểu, vấn đề này có thể tác động đến hợp đồng vay vốn, bảo lãnh ODA, thương mại điện tử xuyên biên giới và các giao dịch tài chính quốc tế. Vì vậy, Luật cần phân biệt rõ việc sử dụng ngoại tệ làm phương tiện thanh toán với việc dùng ngoại tệ để tham chiếu hoặc biểu thị giá trị trong những giao dịch được pháp luật cho phép.
Đại biểu Nguyễn Khánh Ngọc - Đoàn đại biểu Quốc hội TP Đà Nẵng đề cập một vướng mắc khác là hậu quả pháp lý của hợp đồng có ghi giá, thỏa thuận hoặc dẫn chiếu đến ngoại hối. Trong thực tiễn giải quyết tranh chấp, có trường hợp giao dịch bị tuyên vô hiệu, nhưng cũng có trường hợp được quy đổi sang đồng Việt Nam để tiếp tục thực hiện.
Đại biểu đề nghị có hướng xử lý thống nhất, minh bạch, tránh tình trạng quy định mới chỉ dừng ở nguyên tắc nhưng chưa giải quyết được những tranh chấp đang phát sinh.
Về thẩm quyền quy định các trường hợp được sử dụng ngoại hối, đại biểu Lê Văn Thế - Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Ninh Bình cho rằng, những nội dung mang tính kỹ thuật có thể giao văn bản dưới luật hướng dẫn. Tuy nhiên, các vấn đề nguyên tắc liên quan đến quyền, nghĩa vụ và an toàn hệ thống cần được quy định ngay trong Luật.
Theo đại biểu Lê Văn Thế, Luật nên xác định nguyên tắc và tiêu chí cơ bản để nhận diện các trường hợp được phép sử dụng ngoại hối trên lãnh thổ Việt Nam; những trường hợp cụ thể giao Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quy định.
Đại biểu Lê Thị Thúy Sen đề nghị tiếp cận vấn đề theo nguyên tắc vừa giữ kỷ luật quản lý ngoại hối, chống đô la hóa và bảo đảm chủ quyền tiền tệ, vừa cho phép sử dụng ngoại tệ trong phạm vi, thời điểm cần thiết để đáp ứng yêu cầu thương mại, điều hành kinh tế, lợi ích quốc gia và cam kết quốc tế.
Theo đại biểu, Luật chỉ nên quy định nguyên tắc chung, còn các trường hợp cụ thể giao Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quy định để có thể điều chỉnh phù hợp với thực tiễn.
Theo Điều 138 Luật Các tổ chức tín dụng năm số 2024 (Luật số 32/2024/QH15), tổ chức tín dụng và chi nhánh ngân hàng nước ngoài phải duy trì 5 nhóm tỷ lệ bảo đảm an toàn, gồm: (i) tỷ lệ khả năng chi trả; (ii) tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu 8% hoặc cao hơn theo quy định của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước trong từng thời kỳ; (iii) trạng thái ngoại tệ, vàng tối đa so với vốn tự có; (iv) tỷ lệ mua, nắm giữ, đầu tư trái phiếu Chính phủ và trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh; (v) cùng các tỷ lệ bảo đảm an toàn khác.
Tờ trình số 371/TTr-CP ngày 3/7/2026 của Chính phủ đề xuất bổ sung điểm h khoản 2 Điều 59 Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, cho phép Ngân hàng Nhà nước áp dụng tỷ lệ bảo đảm an toàn khác so với mức quy định đối với đối tượng thanh tra, giám sát ngân hàng nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội. Đối tượng được áp dụng cơ chế này vẫn phải xây dựng và thực hiện lộ trình để trở lại tuân thủ mức quy định chung.

Thảo luận về nhóm nội dung sửa đổi, bổ sung Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong dự án luật sửa đổi, bổ sung đồng thời ba luật, sáng 9/8, các đại biểu đề nghị làm rõ phạm vi, điều kiện và cơ chế kiểm soát khi áp dụng một hoặc một số tỷ lệ bảo đảm an toàn khác so với quy định chung. 

