Chính phủ đã ban hành Nghị định số 44/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định trong lĩnh vực biển và hải đảo.
Nghị định số 44/2026/NĐ-CP gồm 4 Chương 47 Điều, trong đó sửa đổi, bổ sung một số điều của 3 Nghị định: Nghị định số 40/2016/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo; Nghị định số 41/2016/NĐ-CP quy định chi tiết việc cấp phép cho tổ chức, cá nhân nước ngoài tiến hành nghiên cứu khoa học trong vùng biển Việt Nam và Nghị định số 11/2021/NĐ-CP quy định việc giao các khu vực biển nhất định cho tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng tài nguyên biển.
Đáng chú ý, Nghị định số 44/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung khoản 5 Điều 4 theo hướng, trong một vùng biển có thể giao cho một hoặc nhiều tổ chức, cá nhân thực hiện một hoặc nhiều mục đích sử dụng nhưng không được mâu thuẫn với các hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên biển hợp pháp của tổ chức, cá nhân khác đang được phép tiến hành.
Trên một khu vực biển chỉ giao cho một tổ chức, cá nhân thực hiện một hoặc nhiều mục đích khai thác, sử dụng tài nguyên biển.
Trường hợp có sự chồng lấn, trùng nhau về vị trí, phạm vi khu vực biển đề nghị giao thì giải quyết hồ sơ của tổ chức, cá nhân nộp trước đối với hồ sơ đầy đủ, hợp lệ, được thể hiện trên Giấy tiếp nhận hồ sơ và hẹn trả kết quả.
Đồng thời, Nghị định số 44/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 5a theo hướng, từ chối giao khu vực biển trong trường hợp phạm vi khu vực biển đề nghị sử dụng nằm trong các khu vực biển như: (i) Khu vực sử dụng cho mục đích quốc phòng, an ninh; (ii) Khu vực bảo vệ I của di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh được xếp hạng di tích quốc gia, di tích quốc gia đặc biệt, di tích được UNESCO công nhận là di sản thế giới; (iii) Khu vực thuộc phân khu bảo vệ nghiêm ngặt và phân khu phục hồi sinh thái của vườn quốc gia, khu dự trữ thiên nhiên, khu bảo tồn loài - sinh cảnh, khu bảo vệ cảnh quan, vùng đất ngập nước quan trọng có hệ sinh thái đặc thù, đa dạng sinh học cao, có chức năng duy trì nguồn nước và cân bằng sinh thái có tầm quan trọng quốc gia, quốc tế; khu vực có rừng đặc dụng đã được công bố theo quy định của pháp luật về môi trường, đa dạng sinh học, lâm nghiệp;
(iv) Khu vực thuộc khu bảo tồn biển, khu bảo vệ nguồn lợi thủy sản theo quy định của pháp luật về thủy sản; (v) Khu vực có hệ sinh thái cỏ biển, rạn san hô thuộc khu vực cần bảo vệ đặc biệt được xác định trong Quy hoạch không gian biển quốc gia; (vi) Khu vực có công trình dầu khí, thiết bị và công trình trên biển, vùng an toàn xung quanh các công trình này và các khu vực đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao, công nhận khu vực biển.
Bên cạnh đó, Nghị định số 44/2026/NĐ-CP đã sửa đổi, bổ sung Điều 8 về thẩm quyền giao, công nhận, cho phép trả lại khu vực biển; gia hạn, sửa đổi, bổ sung Quyết định giao khu vực biển; thu hồi khu vực biển theo hướng, Bộ trưởng Bộ NN&MT quyết định giao, công nhận, cho phép trả lại khu vực biển; gia hạn, sửa đổi, bổ sung Quyết định giao khu vực biển, thu hồi khu vực biển trong các trường hợp: (i) Khu vực biển có phạm vi nằm ngoài ranh giới quản lý hành chính trên biển cấp tỉnh; (ii) Khu vực biển liên vùng; (iii) Thu hồi khu vực biển thuộc thẩm quyền giao, công nhận của Bộ trưởng Bộ NN&MT.
Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có biển quyết định giao, công nhận, cho phép trả lại khu vực biển; gia hạn, sửa đổi, bổ sung Quyết định giao khu vực biển, thu hồi khu vực biển trong các trường hợp: (i) Khu vực biển nằm trong ranh giới quản lý hành chính trên biển của tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; (ii) Thu hồi khu vực biển thuộc thẩm quyền giao, công nhận của Chủ tịch UBND cấp tỉnh.
Chủ tịch UBND cấp xã có biển quyết định giao, công nhận, cho phép trả lại khu vực biển; gia hạn, sửa đổi, bổ sung Quyết định giao khu vực biển; thu hồi khu vực biển đối với cá nhân Việt Nam để nuôi trồng thủy sản theo quy định tại khoản 3 Điều 44 Luật Thủy sản được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 146/2025/QH15 có phạm vi nằm trong vùng biển 3 hải lý tính từ đường mép nước biển thấp nhất trung bình trong nhiều năm của đất liền hoặc các đảo. Hạn mức giao khu vực biển quy định tại khoản này không quá 5 ha.
Với việc xác lập nguyên tắc “mỗi khu vực biển chỉ giao cho một chủ thể khai thác, sử dụng”, đồng thời quy định rõ các trường hợp từ chối giao, phân định thẩm quyền theo hướng phân cấp, rút ngắn thời gian giải quyết thủ tục, Nghị định số 44/2026/NĐ-CP đã tạo lập khung pháp lý chặt chẽ, minh bạch hơn cho quản lý, khai thác và sử dụng tài nguyên biển theo hướng hiệu quả, bền vững và thống nhất không gian quản lý.

Chính phủ quy định rõ trên một khu vực biển chỉ giao cho một tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng tài nguyên biển, qua đó khắc phục tình trạng chồng lấn, xung đột trong quản lý không gian biển. 

