DOI: doi.org/10.64588/jc.27.04.2026
TÁC GIẢ:
ThS Nguyễn Thị Hiền1, PGS. TS Nguyễn Đức Trọng2,*, Bùi Thành Đạt2, TS Trương Văn Đoàn3
1BQLDA Đầu tư xây dựng các công trình giao thông TP Hồ Chí Minh
2Phân hiệu tại TP Hồ Chí Minh, Trường Đại học Giao thông vận tải
3Phân hiệu Trường Đại học Thuỷ Lợi
*Email: trongnd_ph@utc.edu.vn
THÔNG TIN BÀI BÁO
Chuyên mục: Khoa học công nghệ
Ngày nhận bài: 17/3/2026
Ngày sửa bài: 02/4/2026
Ngày chấp nhận đăng: 17/4/2026
Ngày xuất bản Online: 26/4/2026
Tác giả liên hệ:
Email: trongnd_ph@utc.edu.vn
TÓM TẮT
Nghiên cứu này trình bày kết quả thực nghiệm về khối lượng thể tích xốp ở trạng thái rời và đầm chặt và một số chỉ tiêu cơ lý khác của cát biển sử dụng trong xây dựng đường ô tô. Các thí nghiệm xác định thành phần hạt, đầm nén tiêu chuẩn, khối lượng riêng, độ rỗng lớn nhất và nhỏ nhất được thực hiện với các mẫu cát từ bờ biển. Kết quả thí nghiệm cho thấy rằng dung trọng khô lớn nhất của cát biển nằm trong phạm vi từ 1,637 đến 1,684 g/cm³ và độ ẩm tối ưu tương tứng từ 15,8 đến 16,2%. Độ rỗng của cát biển tương đối lớn, dao động từ 40% đến 50%. Hệ số rải của cát biển, từ 1,12 đến 1,15 và từ 1,15 đến 1,19 tương ứng với hệ số đầm chặt 0,95 và 0,98, là nhỏ hơn so với cát sông thông thường.
Từ khóa: Cát biển; vật liệu thay thế; xây dựng nền đường; khối lượng thể tích, hệ số rải.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] S. H. Cho, J. S. Lee, Y. H. Kim, and J. C. Santamarina, Characterization of the Geometry of Soil Particles, Journal of Geotechnical and Geoenvironmental Engineering, vol.132, no.11, pp.1447-1456, 2006.
[2] https://dantri.com.vn/xa-hoi/lan-dau-tien-khoi-cong-khai-thac-cat-bien-lam-duong-cao-toc-20240629081133302.htm, 29/06/2024.
[3] Võ N. T., Nguyễn Q. H., Nguyễn T. T., và cộng sự, Nghiên cứu đặc tính đầm nén và các chỉ tiêu cơ lý của cát biển vùng duyên hải miền Trung phục vụ xây dựng nền đường, Tạp chí Giao thông vận tải, vol.63, no.12, pp.62-65, 2022.
[4] W. Gutt, R.J. Collins, Sea-dredged aggregates in concrete, Build. Res.Establish Watford, UK (7), 1987.
[5] Nguyễn Đ.T, Trần T.N, Nghiên cứu một số chỉ tiêu cơ lý của cát biển dùng trong xây dựng nền đường ô tô ở khu vực Phía Nam, Tạp chí GTVT, 64, pp.30-33, 9/2024.
[6] Nguyễn Đ. T, Nghiên cứu ảnh hưởng của độ chặt đến mô đun đàn hồi cát biển dùng trong xây dựng nền đường cấp thấp, Tạp chí Xây dựng, vol. 680, no.3, pp.112-115, 2026.
[7] Văn V. T. A, Nguyễn V. P, Bùi P. D, Hoàng T, Vật liệu đắp nền đường và khả năng sử dụng cát nhiễm mặn để đắp nền đường ô tô tại Việt Nam, Tạp chí Khoa học Công nghệ Đại học Kiến Trúc, 45, pp.29-33, 2022.
[8] TCVN 4198:2014, Tiêu chuẩn Quốc gia, “Đất xây dựng - Phương pháp phân tích thành phần hạt trong phòng thí nghiệm”, 2014.
[9] TCVN 12790:2020, Tiêu chuẩn Quốc gia, “Đất, đá dăm dùng trong công trình giao thông - đầm nén Proctor”, 2020.
[10] TCVN 4195:2012, Tiêu chuẩn Quốc gia, “Đất xây dựng - phương pháp xác định - khối lượng riêng trong phòng thí nghiệm”, 2012.
[11] TCVN 7572-6:2006, Tiêu chuẩn Quốc gia, “cốt liệu cho bê tông và vữa - phương pháp thử - phần 6: Xác định khối lượng thể tích xốp và độ hổng”.
[12] Standard Specification for Classification of Soils and Soil-Aggregate Mixtures for Highway Construction Purposes, AASHTO M145-91, 2021.
Xem tài bài bao tại đây

Nghiên cứu này trình bày kết quả thực nghiệm về khối lượng thể tích xốp ở trạng thái rời và đầm chặt và một số chỉ tiêu cơ lý khác của cát biển sử dụng trong xây dựng đường ô tô. Các thí nghiệm xác định thành phần hạt, đầm nén tiêu chuẩn, khối lượng riêng, độ rỗng lớn nhất và nhỏ nhất được thực hiện với các mẫu cát từ bờ biển. Kết quả thí nghiệm cho thấy rằng dung trọng khô lớn nhất của cát biển nằm trong phạm vi từ 1,637 đến 1,684 g/cm³ và độ ẩm tối ưu tương tứng từ 15,8 đến 16,2%. 

