Nâng cao hiệu quả quản lý xây dựng nhà ở riêng lẻ tại một số phường thuộc TP.HCM

Bài báo này sẽ tập trung trình bày các kết quả khảo sát, đánh giá các vướng mắc cùng một số giải pháp rút ngắn quy trình cấp phép (từ 11 ngày còn 7 ngày), và đề xuất miễn cấp phép cho một số khu vực (đã có QHCT) áp dụng thí điểm nhà ở riêng lẻ tại các phường Tân Thuận, Tân Mỹ, Phú Thuận, Tân Hưng (Quận 7 cũ - trước khi sáp nhập).
Nâng cao hiệu quả quản lý xây dựng nhà ở riêng lẻ tại một số phường thuộc TP.HCM
Ảnh minh họa. Nguồn: Internet

1. Giới thiệu

1.1. Phát triển đô thị và quản lý cấp phép xây dựng

Phát triển đô thị là động lực quan trọng cho tăng trưởng và phát triển, tạo ra môi trường cạnh tranh, đổi mới, sáng tạo, nâng cao chất lượng sống đô thị. Thực trạng này đã dẫn đến nhu cầu cấp bách phải nâng cao hiệu quả quản lý xây dựng gồm cấp phép và giám sát quá trình thực thi hoạt động xây dựng đối với các dự án, trong đó có nhà ở riêng lẻ chiếm tỷ trọng lớn. Mục tiêu này cần sự đối sánh về cách tiếp cận từ góc nhìn của của cơ quan quản lý tại một số quốc gia, từ đó có thể tham khảo và vận dụng vào bối cảnh có tính đặc thù tại Việt Nam.

Tại nhiều quốc gia trên thế giới, giấy phép xây dựng (Building permit hay Construction permit) được định nghĩa là: “Một văn bản chính thức cho phép cá nhân hoặc tổ chức được xây dựng trên một khu đất hoặc thực hiện các thay đổi đối với một tòa nhà hiện có”.

Tuy nhiên, trong bối cảnh hiện đại, giấy phép không chỉ là “sự cho phép” mà còn là một thỏa thuận về tuân thủ kỹ thuật giữa Nhà nước và chủ đầu tư. Quan điểm quản trị công và minh bạch được Ngân hàng Thế giới (World Bank) trình bày trong các báo cáo thường niên về môi trường kinh doanh Doing Business 2020: Comparing Business Regulation in 190 Economies (World Bank, 2020), trong đó chỉ số cấp phép xây dựng được xem là thước đo năng lực cạnh tranh quốc gia.“Hệ thống cấp phép xây dựng là cơ chế kiểm soát chất lượng công trình, đảm bảo các tiêu chuẩn an toàn (safety standards) và thực thi các quy định về quy hoạch đô thị.

Một hệ thống tốt cần cân bằng giữa việc đảm bảo an toàn công cộng và tránh tạo ra các gánh nặng thủ tục không cần thiết cho doanh nghiệp”. Quan điểm này nhấn mạnh rằng quy trình cấp phép phải minh bạch để giảm thiểu rủi ro tham nhũng và chi phí không chính thức, đồng thời khuyến khích đầu tư từ khối doanh nghiệp tư nhân.

Thực tiễn tại nhiều quốc gia phát triển (như Anh, Mỹ, Úc), “Quy hoạch” và “Kỹ thuật” về mặt lý thuyết quản lý đô thị được phân tách rõ ràng với quy trình cấp phép phân chia thành hai giai đoạn độc lập nhằm tối ưu hóa chuyên môn.

- Planning Permission (Giấy phép quy hoạch): Tập trung trả lời câu hỏi “Công trình này có được phép tồn tại ở vị trí này không?”. Giai đoạn này xem xét sự phù hợp với quy hoạch sử dụng đất, chiều cao, mật độ, và tác động thẩm mỹ tới môi trường sống của cộng đồng.

- Building Regulations Approval (Phê duyệt kỹ thuật xây dựng): Tập trung trả lời câu hỏi “Công trình này có an toàn không?”. Giai đoạn này đi sâu vào kết cấu, phòng cháy chữa cháy, thoát nước và hiệu quả năng lượng. Cách tiếp cận quản lý dựa trên rủi ro (Risk-based approach) được Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) khuyến nghị áp dụng cơ chế quản lý dựa trên mức độ rủi ro của công trình:

♦ Công trình rủi ro thấp (nhà ở nhỏ): Có thể áp dụng cơ chế thông báo hoặc miễn xin phép. Xu hướng này rất tương đồng với những thay đổi mới trong pháp luật Việt Nam (Luật 135/2025/QH15), khi chuyển mạnh sang hậu kiểm và miễn phép đối với các công trình rủi ro thấp (nhà ở quy mô nhỏ).

♦ Công trình rủi ro cao (tòa nhà cao tầng, công cộng): Áp dụng quy trình thẩm định nghiêm ngặt và kiểm tra chéo bởi bên thứ ba độc lập.

1.2. Các quy định về cấp phép xây dựng tại Việt Nam 

Tại Việt Nam, “Giấy phép xây dựng là văn bản pháp lý do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp cho chủ đầu tư để xây dựng mới, sửa chữa, cải tạo, di dời công trình” được quy định tại Điều 3 của Luật Xây dựng số 135/2025/QH15.

Đây là văn bản pháp lý quan trọng đối với công trình phải có giấy phép trước khi khởi công, là cơ sở để xác định hành vi vi phạm pháp luật về xây dựng, xử lý vi phạm hành chính, thậm chí trong một số trường hợp sẽ quyết định số phận của công trình (bị tháo dỡ), gồm những loại sau: 

i) Giấy phép xây dựng mới; 

ii) Giấy phép sửa chữa, cải tạo; 

iii) Giấy phép di dời công trình; 

iv) Giấy phép xây dựng có thời hạn (là giấy phép cấp cho xây dựng công trình, nhà ở riêng lẻ được sử dụng trong một thời hạn nhất định theo kế hoạch thực hiện quy hoạch xây dựng).

Nhà ở riêng lẻ được định nghĩa theo khoản 2 Điều 2 của Luật Nhà ở năm 2023: “Nhà ở được xây dựng trên thửa đất ở riêng biệt thuộc quyền sử dụng hợp pháp của tổ chức, cá nhân, hộ gia đình, bao gồm nhà biệt thự, nhà ở liền kề và nhà ở độc lập”.

Theo đó, quản lý hoạt động xây dựng nhà ở riêng lẻ được triển khai theo Nghị định số 15/2021/NĐ-CP ngày 3/3/2021 (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 35/2023/NĐ-CP) và Luật Xây dựng hợp nhất, được xác định từ giai đoạn chuẩn bị đầu tư (cấp phép) đến giai đoạn thi công và hoàn thành công trình (nghiệm thu), và được phân định thành hai nội dung chính, chú trọng trong công tác quản lý và giám sát:

i) Quản lý trước xây dựng (giai đoạn tiền kiểm): Kiểm soát sự phù hợp của hồ sơ thiết kế với

- Quy hoạch chi tiết xây dựng hoặc quy chế quản lý kiến trúc đô thị;

- Mục đích sử dụng đất hợp pháp;

- Các yêu cầu về an toàn chịu lực và an toàn phòng cháy chữa cháy đối với các công trình nhà ở kết hợp sản xuất kinh doanh.

ii) Quản lý trật tự xây dựng và chất lượng thi công (Giai đoạn giám sát và hậu kiểm): Đảm bảo công trình được thi công đúng với nội dung GPXD đã được cấp hoặc đúng với thiết kế đã thẩm định (đối với trường hợp miễn phép). Nội dung quản lý tập trung vào các chỉ tiêu quy hoạch - kiến trúc cốt lõi: Chỉ giới đường đỏ; chỉ giới xây dựng; mật độ xây dựng; chiều cao công trình và cốt nền xây dựng.

Từ ngày 01/7/2025, thực hiện theo Nghị quyết số 1685/BTVQH15 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp xã của TP.HCM năm 2025, cơ cấu tổ chức hành chính của Quận 7 đã được sắp xếp, tổ chức lại từ 10 phường xuống còn 04 phường mới (Tân Thuận, Tân Mỹ, Phú Thuận, Tân Hưng).

Theo đó, phạm vi quản lý của các đơn vị hành chính lớn hơn, trong khi cần thực hiện tinh gọn bộ máy. Do đó, nhu cầu rút ngắn quy trình, nâng cao hiệu quả phối hợp nhằm giải quyết số lượng hồ sơ xin cấp phép có chiều hướng tăng do nhu cầu phát triển của đô thị, đáp ứng kinh doanh, dịch vụ tại khu vực trên là một nhu cầu thực tiễn khá cấp bách. 

Từ những vấn đề trên, bài viết này sẽ trình bày thực trạng phát triển về hoạt động xây dựng nhà ở dẫn đến nhu cầu cấp phép tăng nhanh trong những năm gần đây của khu vực nghiên cứu (4 phường - Quận 7 cũ trước khi sáp nhập); từ đó, đề xuất một số giải pháp về cải tiến quy trình - thủ tục cấp phép nhằm rút ngắn thời gian, tiết giảm thủ tục cho người dân nhưng đồng thời vẫn đảm bảo tính chính xác của các bước thực hiện.

Tiến trình sáp nhập với mô hình chính quyền hai cấp triển khai trong năm 2025 được xem là cơ hội thuận lợi để triển khai hiệu quả đối với khả năng phối hợp giữa các phòng ban, rút ngắn được thời gian chuyển hồ sơ giữa các đơn vị, các cấp theo quy trình cũ.

2. Quá trình phát triển và đô thị hoá tại khu vực nghiên cứu 

Khu vực nghiên cứu gồm các phường Tân Thuận, Tân Mỹ, Phú Thuận, Tân Hưng (Quận 7, trước khi sắp xếp các đơn vị hành chính) nằm về phía Đông Nam thành phố, có vị trí chiến lược: 

- Phía Bắc giáp Quận 4, qua kênh Tẻ, và TP Thủ Đức (cũ) qua sông Sài Gòn; 

- Phía Nam giáp huyện Nhà Bè qua rạch Đĩa, sông Phú Xuân; 

- Phía Đông giáp TP Thủ Đức (cũ) và tỉnh Đồng Nai qua sông Sài Gòn và sông Nhà Bè. 

- Phía Tây giáp Quận 8 và huyện Bình Chánh cũ qua rạch Ông Lớn. 

Từ khi thành lập năm 1997, sau hơn 25 năm phát triển, dân số tại đây tăng mạnh qua các giai đoạn phát triển, cùng với sự hình thành và phát triển của nhiều khu đô thị hiện đại, điển hình Khu đô thị Phú Mỹ Hưng, tạo động lực cho các dự án án phát triển hạ tầng giao thông và tiện ích đồng bộ.

Do đó, khu vực này từng bước phát triển thành khu đô thị hiện đại với tốc độ đô thị hoá cao, có thể được xem là một hình mẫu đặc thù về sự đan xen phức tạp giữa các khu đô thị mới hiện đại được quy hoạch bài bản (như Phú Mỹ Hưng) và các khu dân cư hiện hữu cần chỉnh trang, cải tạo [1]. 

Hình 1. Ảnh vệ tinh so sánh mức độ đô thị hóa của khu vực sau 17 năm (2008-2025). (Nguồn: Google Earth)

3. Thực trạng quản lý hoạt động cấp phép xây dựng trên địa bàn - khu vực nghiên cứu (phường Tân Thuận, Tân Mỹ, Phú Thuận, Tân Hưng: Quận 7 Cũ)

3.1. Nhu cầu phát triển nhà ở - cấp phép xây dựng mới

Trong 5 năm 2021 - 2024, chính quyền địa phương đã tiếp nhận và giải quyết số lượng hồ sơ xin cấp phép cho nhà ở riêng lẻ đã tăng không ngừng từ 631 hồ sơ (tương ứng 171.574 m2 sàn xây dựng) năm 2021 lên 650 (tương ứng khoảng 215.000 m2 sàn xây dựng) - tăng khoảng 25%.

Trong khi đó, số lượng chuyên viên chuyên trách của phường được phân bổ giảm khoảng 30%: Từ 06 chuyên viên và 01 phó phòng phụ trách mảng cấp phép xử lý hồ sơ cho phạm vi 10 phường, còn 04 người và 01 trưởng phòng cho 04 phường sau sáp nhập.

Thực trạng này đã dẫn đến áp lực xử lý khối lượng công việc ngày càng lớn - nguy cơ chậm tiến đố, gây ra sai sót ngày càng lớn nếu không có những điều chỉnh về quy trình và các bước xử lý phù hợp.

Bảng 1. Thống kê hoạt động xin phép xây dựng trong 5 năm: 2021 - 2025

Nguồn: Phòng thống kê Quận 7 (đến ngày 01/7/2025)

DT sàn xây dựng (m2) xin phép        

Hình 2. Biểu đồ thể hiện mức biến động - xu hướng tăng về số lượng và diện tích sàn xin phép xây dựng cho nhà ở riêng lẻ (Nguồn: UBND Quận 7 đến 1/7/2025)

3.2. Quy trình cấp phép xây dựng: Một số bất cập trong quá trình triển khai 

Hiện tại, quy trình cấp phép xây dựng nhà ở riêng lẻ tại địa bàn đang áp dụng theo tiêu chuẩn ISO 9001:2015 với thời gian công bố tối đa là 11 ngày làm việc. Tuy nhiên, qua kết quả khảo sát bằng phương pháp phỏng vấn sâu với các chuyên gia quản lý đô thị, thực trạng quá trình triển khai được ghi nhận một số vấn đề hạn chế có thể được xử lý, khắc phục để có được một số cải tiến như sau:

- Khâu thẩm định chuyên môn kéo dài (8/11 ngày): Giai đoạn thụ lý của chuyên viên Phòng Quản lý đô thị chiếm tới 72% tổng thời gian xử lý với các bước thực hiện thủ công như đối chiếu, soát pháp lý đất đai (phối hợp với phòng tài nguyên môi trường), kiểm tra các chỉ tiêu kiến trúc (theo Quy chế quản lý kiến trúc ban hành kèm theo QĐ 56/2021/QĐ-UBND), tra cứu chồng lớp các loại bản đồ quy hoạch (phân khu 1/2000, lộ giới hẻm, hành lang bảo vệ sông rạch…).

Việc thiếu công cụ chuyên nghiệp tra cứu tích hợp khiến thao tác này tốn nhiều thời gian và dễ sai sót liên quan đến dữ liệu đầu vào, quy trình xử lý và cơ chế kiểm tra... Ngoài ra, một số đặc thù về điều kiện tự nhiên như địa hình trũng thấp, hệ thống kênh rạch dày đặc (chiếm 28,5% diện tích tự nhiên) có gắn kết với triều cường - nguy cơ ngập, địa chất yếu (hầu hết công trình nhà ở riêng lẻ đều phải sử dụng giải pháp móng cọc sâu) nên công tác thẩm định hồ sơ và kiểm tra thực địa phải chặt chẽ, mất nhiều thời gian.

- Thiếu dữ liệu liên thông: Theo báo cáo đánh giá của Sở Tài nguyên và Môi trường TP.HCM (nay là Sở Nông nghiệp và Môi trường) tình trạng sai lệch giữa diện tích trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (có tính pháp lý) và hiện trạng thực tế đo đạc vẫn diễn ra phổ biến.

Điều này thường xuyên gây gián đoạn quy trình cấp phép do phải trả hồ sơ để người dân để làm rõ hoặc điều chỉnh. Bên cạnh đó, phương thức kiểm tra hiện tại còn mang tính "thủ công" khó bao quát hết các ngõ hẻm sâu, dẫn đến nguy cơ vi phạm ở giai đoạn sớm (làm móng), gây khó khăn cho việc xử lý sai lệch về sau (giữa xin phép và thi công thực tế).

- Công tác hậu kiểm thụ động: Kiểm tra trật tự xây dựng chủ yếu dựa trên thông báo khởi công bằng văn bản giấy (gửi trước 7 ngày). Tuy nhiên, do lực lượng thanh tra địa bàn có số lượng thành viên hạn chế, trong khi đó địa bàn quản lý sau sáp nhập mở rộng gấp 2-3 lần nên áp lực về mặt khối lượng công việc càng lớn. 

3.3. Một số quy định mới từ văn bản pháp lý liên quan đến công tác cấp phép xây dựng

Luật Xây dựng số 135/2025/QH15 được ban hành đã tạo ra hành lang pháp lý mới cho khả năng vận dụng một cách linh hoạt, thuận lợi hơn cho hoạt động xây dựng. Theo đó, khoản 2 Điều 43 cho phép miễn giấy phép xây dựng đối với nhà ở riêng lẻ quy mô nhỏ (dưới 7 tầng, sàn < 500m²) tại các khu vực có quy hoạch chi tiết 1/500 và tăng cường phân cấp cho chính quyền cơ sở [3].

Những điểm mới của quy định này đã hình thành cơ sở cho các bước cải tiến trong công tác quản lý vận dụng các quan điểm mới: Giảm cơ chế “xin cho”, ưu tiên tạo điều kiện cho người dân chủ động thực hiện đúng các quy định về xây dựng (trong trường hợp này là các quy hoạch chi tiết đã được duyệt của mỗi khu vực).

Sự thay đổi này cũng cho thấy tính cấp thiết của việc xây dựng một quy trình quản lý mới hoặc điều chỉnh các bước triển khai phù hợp dựa trên các quy trình đã có, theo cơ chế "miễn phép" và "số hóa" để giúp bộ máy hành chính ngày một tinh gọn. 

4. Giải pháp nâng cao hiệu quả, cải tiến quy trình cấp phép xây dựng nhà riêng lẻ

Dựa trên nội dung phân tích tại các phần trên, thực tiễn đã đặt ra yêu cầu cần có một quy trình xử lý hồ sơ hiệu quả hướng đến rút ngắn thời gian trong khi khối lượng hồ sơ tăng nhưng nhân sự giảm. Đây thực sự là một thách thức lớn đối với đơn vị quản lý - bộ phận xử lý hồ sơ cấp phép. Do đó, nhóm tác giả đề xuất các nhóm giải pháp có thể áp dụng thí điểm để đáp ứng nhu cầu trên như sau: 

4.1. Quy trình cấp phép xây dựng có thời gian 7 ngày (rút ngắn từ 11 ngày): Chú trọng một số giải pháp phối hợp giữa các đơn vị đã được gộp chung sau sáp nhập (trước đây là từng bộ phận xử lý riêng - tốn nhiều thời gian chuyển và tiếp nhận hồ sơ), các bước triển khai được phân tích, xem xét để có thể đề xuất rút ngắn thời gian thực hiện ở từng công đoạn, loại bỏ các bước thủ công và tăng cường thẩm định thông minh dựa trên dữ liệu dùng chung; đồng thời kết hợp sử dụng ứng dụng hệ thống quản lý số - phần mềm quản lý hồ sơ trực tuyến nên từ đó có thể rút ngắn từ 11 ngày xuống còn 07 ngày, cụ thể như sau (xem chi tiết ở Bảng 3):

- Bước 1 - Tiếp nhận và luân chuyển (A1, A2): Rút ngắn còn 0,25 ngày so với 01 ngày trước đây. Người dân gửi hồ sơ trực tuyến qua Cổng Dịch vụ công (dựa trên phần mềm trực tuyến - "Q7 Construction" để cập nhật thông tin, diễn tiến xử lý hồ sơ); hệ thống tự động phân loại hồ sơ và gửi mã QR cho người dân.

- Bước 2 - Thẩm định chuyên môn (B3, B4, B5, B6): Rút ngắn thành 6 ngày so với 8 ngày như trước đây. Thay vì gửi văn bản giấy xác minh, chuyên viên sử dụng quyền truy cập dữ liệu liên thông để xác minh tính pháp lý về đất đai trên hệ thống. Kiểm tra địa chỉ được thực hiện bằng các ứng dụng GIS kết hợp với khảo sát thực địa; chuyên gia cập nhật thông tin - kiểm tra tại vị trí đất, chụp ảnh hiện trạng và cập nhật trực tiếp lên hệ thống (thay vì về văn phòng lập biên bản giấy).

- Bước 3 - Phê duyệt (C7, C8): Rút ngắn thành 0,5 ngày so với 01 ngày như trước đây. Chuyển trình duyệt dự thảo hồ sơ và xin Chữ ký số của Lãnh đạo UBND Phường được ủy quyền (rút ngắn thời gian chuyển hồ sơ ký duyệt, đóng dấu giữa các đơn vị).

- Bước 4 - Trả kết quả (C9): Rút ngắn thành 0,25 ngày so với 01 ngày như trước đây. Việc trả kết quả có thể được tiến hành tại bộ phận dịch vụ công (kết hợp cả trực tiếp hoặc trực tuyến). GPXD bản điện tử được cấp mã QR để người dân tự kiểm tra kết quả, phản hồi (nếu có sai sót) hoặc tiến hành chấp nhận để cùng thực hiện. 

Như vậy, so với quy trình cấp phép trước năm 2025, thời gian triển khai có thể được giảm 4/11 ngày, với tổng thời gian có thể giảm khoảng 37% cho quá trình xử lý hồ sơ sơ đồ (từ 11 ngày giảm xuống 7 ngày).

Bảng 2. So sánh quy trình cấp phép đã có (trước 2025) và quy trình cải tiến (rút ngắn thời gian 2025) 

4.2. Thí điểm cơ chế miễn giấy phép tại một số phân vùng phù hợp 

Như đã trình ở phần trên, Luật Xây dựng 2025 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026 đã cho phép thí điểm miễn giấy phép xây dựng đối với nhà riêng lẻ tại các khu vực đã có quy định chi tiết hoàn chỉnh 1/500. Theo đó, bằng việc áp dụng quy trình "Tiếp nhận thông báo khởi công", vai trò quản lý của nhà nước sẽ chuyển trọng tâm từ kiểm tra định kỳ sang kiểm tra lỗi và giám sát cộng đồng, chú trọng:

- Hướng dẫn: Cơ quan quản lý sẽ chú trọng công tác hướng dẫn dựa trên hệ thống cơ sở dữ liệu được công khai (liên quan đến quy hoạch: chức năng đất, tầng cao - chiều cao tối đa, khoảng lùi…, tọa độ địa lý của các thửa đất…) để người dân tự kiểm tra và đăng ký thực hiện xây dựng để cơ quan quản lý - dịch vụ công có thể hỗ trợ kiểm tra, rà soát…

- Hậu kiểm: Với việc áp dụng công nghệ (ảnh vệ tinh, flycam…), cơ quan quản lý có thể phát hiện sớm các sai khác xuất hiện (khác với "Thông báo khởi công" hoặc trên bản đồ hệ thống quản lý - dữ liệu tập trung).

- Hoàn công: Quy trình hoàn công chỉ còn là thủ tục cập nhật tài sản với điều kiện tài sản được xây dựng thực hiện đúng các quy định và cam kết. Dữ liệu về kết quả của quá trình xây dựng sẽ được bộ phận chức năng kiểm tra, đánh giá, nếu không sai phạm sẽ được đồng bộ tự động sang Văn phòng Đăng ký đất đai.

Qua rà soát các đồ án quy hoạch đã có trong khu vực nghiên cứu, nhóm tác giả để xuất áp dụng theo 02 phân vùng:

- Phân vùng 1 (Vùng xanh - các khu vực đã có quy hoạch 1/500): Khu vực đã có QH 1/500 hoàn chỉnh sẽ được đề xuất hiển thị thông báo "Được miễn giấy phép", đồng thời cung cấp thông tin chi tiết, đầy đủ các quy định về cao độ nền, khoảng lùi, mật độ xây dựng, hệ số sử dụng đất và một số quy định có liên quan đến khả năng đấu nối hạ tầng, kiến trúc - cảnh quan…cùng các hướng dẫn trình tự thực hiện.

-  Phân vùng 2 (Phần còn lại - các khu vực đang lập quy hoạch hoặc điều chỉnh quy hoạch 1/500), bao gồm:

o Khu dân cư hiện hữu, chỉnh trang: Vẫn yêu cầu cấp phép nhưng theo quy trình rút gọn 7 ngày (Bảng 2).

o Khu vực được quy hoạch đất công, hành lang an toàn sông rạch: Không được xây dựng cố định nên chỉ xem xét các cấp phép có thời hạn (không áp dụng theo quy trình tại Bảng 3), và dự kiến sẽ thực hiện theo một số quy định mới được ban của Chính phủ.

Như vậy, việc áp dụng thí điểm cơ chế miễn giấy phép và quản lý phân vùng số (Digital Zoning) sẽ giúp giảm áp lực cho nhân sự thông qua tự động hóa các khâu tra cứu và loại bỏ các bước thủ công.

Hình 3. Bản đồ quản lý phân vùng số thí điểm cơ chế miễn giấy phép

4.3. Ứng dụng công nghệ: Ý tưởng về phát triển phần mềm quản lý "Q7 Construction" hỗ trợ hoạt động cấp phép, hoặc thông báo cho phép xây dựng với sự tham gia, phản hồi từ cộng đồng 

Hiện nay, để giải quyết bài toán thiếu nhân lực là ứng dụng công nghệ. Đề xuất xây dựng ứng dụng "Q7 Construction" với các tính năng đặc biệt cho 3 nhóm đối tượng:

- Đối với người dân: Cung cấp thông tin theo thời gian thực bằng định vị GPS. Quy trình nhận thông báo thuế và theo dõi quá trình xử lý được thể hiện theo sơ đồ - dễ quan sát và trực diện;

- Đối với cán bộ quản lý: Là công cụ nghiệp vụ với cơ sở dữ liệu tập trung, hạn chế hồ sơ giấy không cần thiết. Ứng dụng cho phép cập nhật kiểm tra, nghiên cứu lớp dữ liệu chuyên sâu (chẳng hạn hạ tầng kỹ thuật: điện, nước, thông tin…) để hướng dẫn người dân đăng ký đấu nối hạ tầng kỹ thuật đúng;

- Đối với lãnh đạo: Hệ thống bảng điều khiển báo cáo thời gian thực hiện cấp phép và tiến độ xây dựng công trình sau cấp phép trên địa bản.
Theo đó, cơ chế phân quyền và phân cấp dữ liệu cần đảm bảo an toàn thông tin theo Luật an ninh mạng, hệ thống áp dụng cơ chế phân quyền chặt chẽ:

- Lãnh đạo phường: Quyền truy cập các lớp dữ liệu (Quy hoạch, Quyền sở hữu, Hạ tầng, hiện trạng).

- Chuyên viên: Quyền truy cập dữ liệu kỹ thuật và cập nhật hiện trạng.

- Công cộng: Chỉ xem các quy tắc chung và hiển thị thông tin, ẩn chủ sở hữu thông tin. Mọi thao tác truy cập dữ liệu nhạy cảm đều được ghi nhật ký hệ thống (Nhật ký hệ thống) để kiểm soát.

Như vậy, việc áp dụng ứng dụng công nghệ: Hệ sinh thái "Q7 Construction" sẽ giúp tăng cường tính minh bạch và sự hài lòng của người dân thông qua công việc khai kế hoạch số, báo cáo số liệu cấp phép, thi công xây dựng cụ thể. 

Hình 4. Minh họa phần mềm tra cứu quy hoạch phục vụ cấp phép xây dựng ‘Q7 Construction’

5. Kết luận và kiến nghị

Thực trạng về nhu cầu phát triển cùng với việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp xã, phường của TP.HCM năm 2025, và những quy định mới của Luật Xây dựng số 135 năm 2025 tạo ra nhiều yêu cầu, thách thức về hoạt động quản lý xây dựng trong đó có cấp phép, nhưng cũng là cơ hội tích hợp những điều chỉnh và cải tiến và có thể thí điểm một số đổi mới tại một số khu vực thuộc địa bàn 4 phường (Quận 7 cũ) nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý xây dựng và vai trò cùng tham gia thực hiện đúng quy định của người dân.

Các số liệu thực trạng được tổng hợp, phân tích và trình bày về số lượng cấp phép tăng khoảng 25% trong khi nhân sự (chuyên viên chuyên trách) giảm khoảng 30% đã được trình bày ở các phần trên cho thấy tính bức thiết về yêu cầu cải tiến, điều chỉnh các quy trình phối hợp, xử lý công việc theo hướng hiệu quả (rút ngắn thời gian, hạn chế điểm nghẽn nhưng vẫn đảm bảo chính xác, chất lượng).

Qua đánh giá, phân tích thực trạng khó khăn, nhóm tác giả đã đề xuất giải pháp giúp cho công tác quản lý hoạt động cấp phép xây dựng trên địa bàn (Quận 7 cũ) - khu vực nghiên cứu có hiệu quả hơn về mặt thời gian, phối hợp xử lý giữa các đơn vị và tối ưu nhân lực, và ứng dụng công nghệ cho khả năng tương tác và sử dụng cơ sở dữ liệu tập trung. Cụ thể như sau:

(1) Giảm 37% thời gian xử lý hồ sơ (từ 11 xuống còn 7 ngày); 

(2) Giảm áp lực cho nhân sự thông qua khả năng điều phối, phân bổ hợp lý giữa các bước triển khai, và tự động hóa các khâu tra cứu kiểm tra dữ liệu, loại bỏ các bước thủ công; 

(3) Tăng cường tính minh bạch và sự hài lòng của người dân thông qua công việc phần mềm - giao diện trực tuyến.

Nhóm tác giả kiến nghị các đơn vị quản lý tại các phường lân cận trên địa bàn TP.HCM có thể kiểm chứng thử quy trình đã được đề xuất trong bài viết này, đồng thời có thể thí điểm triển khai miền cấp phép cho một số phân vùng đáp ứng đủ các điều kiện tương đồng. Tuy nhiên, để các giải pháp đề xuất nêu trên có thể trở thành hiện thực, áp dụng vào công tác quản lý vận hành hiệu quả, các giải pháp sẽ cần phải tiếp thu ý kiến và điều chỉnh.

*Tiêu đề do Tòa soạn đặt - Mời xem fiel PDF tại đây

TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Ủy ban nhân dân Quận 7. Báo cáo tổng kết tình hình kinh tế - xã hội và quản lý trật tự đô thị năm 2024, phương hướng nhiệm vụ năm 2025, 2024.
[2] Dương Thanh Tiến. Đề án nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động xây dựng nhà ở riêng lẻ tại các phường Tân Thuận, Tân Mỹ, Phú Thuận và Tân Hưng. Đề án Thạc sĩ, Trường Đại học Kiến trúc TP.HCM, 2025.
[3] Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Luật Xây dựng số 135/2025/QH15, Hà Nội, 2025.
[4] Phòng Quản lý đô thị Quận 7. Dữ liệu thống kê cấp phép xây dựng giai đoạn 2021-2024, 2024.
[5] World Bank. Doing Business 2020: Dealing with Construction Permits Methodology. Washington, DC, 2020.
[6]  UBND TP.HCM. Quyết định số 29/2025/QĐ-UBND về phân cấp thẩm quyền cấp giấy phép xây dựng, TP.HCM, 2025.
[7]. Sở Nội vụ TP.HCM. Sổ tay Danh mục địa giới hành chính các phường - xã, đặc khu của Thành phố Hồ Chí Minh (Lưu hành nội bộ). 2025.
[8]."OECD Best Practice Principles for Licensing and Permitting" 2025.

Bình luận
Nhà ở xã hội SUNRISE HOME Ngọc Hồi Công ty Xe đạp Thống Nhất