1. Tổng quan về vai trò và giá trị của công viên công cộng tại các khu vực đô thị
1.1. Công viên công cộng đối với sự phát triển của các thành phố
Hệ thống công viên là một phần thiết yếu cho sự phát triển bền vững của môi trường tự nhiên và kinh tế - xã hội của các thành phố. Để thu hút dân cư đến sinh sống, các khu vực đô thị cần có sức hấp dẫn với các dịch vụ, tiện ích, hạ tầng kỹ thuật đáp ứng về khả năng tiếp cận, sử dụng hiệu quả.
Xét về khả năng ảnh hưởng và tầm quan trọng, không gian xanh đô thị trong đó có các công viên công cộng (CVCC) là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến giá trị bất động sản và sức sống kinh tế đô thị (Alberta Park and Recreation Association, 2022).
Giá trị bất động sản sẽ cao hơn nếu có vị trí nằm liền kề với các công viên hoặc có tầm nhìn về hướng công viên (ibid). Mặt khác, công viên cũng đóng vai trò trong nền kinh tế địa phương khi có thể tạo sư thu hút người tham gia hoặc tổ chức các sự kiện tại công viên; và ngược lại, sự đầu tư đa dạng về hình thức của bất động sản sẽ tăng tính hỗ trợ tiện ích giúp công viên thu hút, tăng số lượng du khách.
Giá trị lợi ích về kinh tế của các công viên trong đô thị là đáng kể. Theo Hiệp hội Công nghiệp ngoài trời tại Mỹ, giá trị kinh tế ước tính hàng năm của hoạt động giải trí tại các công viên lên đến 730 tỷ đô la; ngoài ra giá trị bất động sản tăng khi ở gần công viên như San Francisco từ 500 triệu đô la đến 1 tỷ đô la.
Đối với các thành phố đang trong quá trình đô thị hóa nhanh, các không gian xanh như vườn hoa, công viên, là một trong những khu vực quan trọng; nhưng lại không được chú ý bởi “sức nặng” của các giá trị kinh tế của đô thị (Van de Bosch and Nieuwenhuijzen, 2017).
Liên quan đến lợi ích kinh tế - xã hội, nhiều chuyên gia nhận định các không gian xanh trên thế giới được bố trí không đồng đều, thường tập trung tại các khu vực của người có thu nhập cao hơn so với các khu vực người thu nhập thấp (Ferguson et al., 2018).
Thêm vào đó, đô thị hóa nhanh và tập trung dân cư ngày càng cao sẽ gây ra vấn đề về tỷ lệ mật độ cư trú so với diện tích mảng xanh; đồng thời tạo ra những rủi ro mức thiệt hại càng cao mà người dân tại các khu vực đô thị sẽ đối mặt (Fuller và Gaston, 2009).
1.2. CVCC đối với môi trường đô thị
Với vai trò cân bằng môi trường đô thị, công viên và mảng xanh có khả năng cung cấp bóng râm, giảm nhiệt độ bề mặt và tăng khả năng làm mát bằng lượng nước được bốc hơi, góp phần giảm hệ quả của hiệu ứng đảo nhiệt đô thị (nhiệt độ tại khu trung tâm tăng cao so với các khu vực xung quanh) (Oliveira et al., 2011).
Theo dự báo, với hiện tượng nhiệt độ nóng lên tại các đô thị, một phần ba dân số toàn cầu có khả năng phải tiếp xúc với nhiệt độ giống như sa mạc trong vòng 50 năm tới (Xu et al., 2020). Hướng đến khả năng giảm thiểu các tác động, sự liên kết giữa các CVCC, mảng xanh đô thị có tác động lớn đến thảm thực vật và sinh học tại khu vực khi các mảng xanh (cây cối và thảm cỏ) có khả năng hấp thụ bức xạ mặt trời lớn (khoảng 65 đến 80%).
Do kết quả của quá trình quang hợp, cộng thêm hiệu quả giảm nhiệt độ không khí do quá trình bay hơi nước trên mặt lá và mặt đất xung quanh (Easterling et al., 2000). Nghiên cứu của Dekay (2001) về hiệu quả làm mát của bề mặt phủ xanh tại Montreal, Canada cho thấy trong miền khí hậu nóng - ẩm, hiệu quả che nắng có vai trò quan trọng và làm giảm nhiệt lượng, làm mát từ 15% đến 35%.
Đối với các vùng khí hậu khác nhau, nếu tăng 25% diện tích bề mặt cây xanh có thể tiết kiệm từ 17% đến 57% năng lượng làm mát khi nhiệt độ tăng cao, nắng nóng (Dekay, 2001). Thêm vào đó, không gian và mảng xanh có thể giúp đô thị giảm ảnh hưởng của BĐKH toàn cầu chẳng hạn như ngập lụt tại các khu vực đô thị thông qua quá trình thẩm thấu nước và giảm tốc độ dòng chảy, cũng như các tác động khá có liên quan như mưa lớn thất thường; nhất là khi các hiện tượng biến đổi khí hậu đang diễn ra ngày càng rõ rang với nhiệt độ môi trường ngày càng nóng hơn, khí hậu bị thay đổi khắc nghiệt hơn (Rocque et al., 2021).
Trên thực tế, người dân sinh sống tại nhiều khu vực đô thị có thể được hưởng lợi trực tiếp hoặc gián tiếp từ các công viên và mảng xanh - vốn đóng vai trò tích cực trong quá trình phát triển thể chất của cộng đồng. Không gian mảng xanh với vai trò giảm thiểu ô nhiễm không khí, tiếng ồn, tạo sự khuyến khích các hoạt động thể chất và tăng tính tương tác xã hội nhằm phục hồi chức năng nhận thức, giảm căng thẳng; ngược lại, việc thiếu các không gian xanh có thể gây ảnh hưởng đến sức khỏe, tinh thần của con người (Engemann et al, 2019). Lấy ví dụ, diện tích mảng xanh càng lớn sẽ giúp phát triển nhận thức của trẻ em và người lớn khi giảm nguy cơ suy nghĩ căng thẳng và các bệnh liên quan đến tinh thần (Bratman et al.,2015; Engemann et al., 2019).
Nhìn chung, khi các thành phố tiếp tục phát triển thì vai trò của công viên ngày càng quan trọng trong việc duy trì sự ổn định, bền vững về môi trường tự nhiên và kinh tế xã hội. Công viên không những góp phần duy trì sự cân bằng môi trường vật lý về nhiệt độ, độ ẩm, chất lượng không khí, mà còn giúp tạo môi trường sinh hoạt tinh thần, rèn luyện thể chất tốt cho cộng đồng.
Bên cạnh đó, vai trò đóng góp về yếu tố cảnh quan góp phần tạo động lực phát triển kinh tế - giá trị đầu tư bất động sản càng khẳng định vai trò quan trọng của công viên công cộng. Tuy nhiên, một khi mật độ tập trung dân cư ngày càng cao thì yêu cầu giải quyết về diện tích, chỉ tiêu công viên và các tiêu chí về chất lượng dịch vụ sẽ đặt ra một thách thức đối với chính quyền địa phương và các chuyên gia quy hoạch, nghiên cứu về đô thị.
2. Lý thuyết về phát triển CVCC và các tiêu chí đánh giá
2.1. Không gian công cộng và công viên công cộng
Không gian công cộng (KGCC) là những khu vực được chính phủ thay mặt người dân quản lý, chẳng hạn như đường phố, vỉa hè, công viên và thư viện, quảng trường - nơi tập trung số lượng người lớn có nhu cầu sử dụng chung một không gian (Koh, 2011). Không gian công cộng có giá trị vật thể, văn hóa, tinh thần; đồng thời còn là không gian biểu tượng của trung tâm đô thị, là nơi mọi người đều có quyền tiếp cận, tham gia quyền quyết định của mình (Habermas, 1962).
Công viên công cộng (CVCC), là một vùng đất (thường có nhiều diện tích cây xanh) dành cho công chúng vui chơi, với các tiện nghi để nghỉ ngơi và giải trí, chẳng hạn như sân bóng chày hoặc sân bóng rổ, do chính quyền đô thị sở hữu và quản lý. Nơi đây có các khu vực được quy hoạch và thiết kế cho cả hoạt động giải trí chủ động và thụ động của công chúng. Vai trò của CVCC trong xã hội ngày càng trở nên quan trọng và không thể thiếu cho sự phát triển của một đô thị như:
- Tạo không gian cho các hoạt động văn hóa, vui chơi giải trí, kết nối cộng đồng;
- Duy trì môi trường tự nhiên - không gian để tái tạo sức khỏe, thể chất của con người;
- Góp phần phát triển kinh tế, giáo dục;
- Đầu mối kết nối giao thông đô thị.
Tóm lại, hệ thống CVCC trong đô thị không chỉ dừng lại ở những mảng xanh đơn thuần mà còn đóng vai trò quan trọng trong nhiều lĩnh vực góp phần hỗ trợ, cộng sinh với nhau mang lại lợi ích cho cuộc sống của cộng đồng. Vai trò của các công viên công cộng được định hướng chính quyền địa phương và các nhà quy hoạch; theo đó, cần phát huy hiệu quả trong việc sử dụng quỹ đất tốt nhất để đáp ứng nhu cầu dịch vụ, tiện ích của cộng đồng.
2.2. Đánh giá mức độ đáp ứng các chức năng của công viên dựa trên các tiêu chí hướng dẫn về “Không gian Công cộng Tuyệt vời” (“Great Public Spaces Guide” - GPSG: Jan-Gehl, 2021) và các quy định về không gian công cộng tại New South Wales - NSW (Úc)
Theo quan điểm của các chuyên gia từ dự án “Great Public Spaces” - GPS (Jan-Gehl, 2021), một “không gian công cộng tuyệt vời” được xem xét qua 4 yếu tố:
- Địa điểm (tọa độ) và quy mô của không gian: Không chỉ là một vị trí đơn thuần mà đây là sự kết hợp độc đáo giữa hình thức vật chất, các sinh hoạt tại đó và cảm giác gắn bó với địa điểm, nghĩa là cách con người cảm nhận về địa điểm đó hay gọi cách khác là cảm nhận về một nơi thành nơi chốn mang đến cơ hội đa dạng cho các tương tác xã hội, có sắc thái mạnh mẽ và luôn sẵn sàng phục vụ mọi người;
- Mục đích (nhận dạng và sắc thái): Thể hiện bản sắc văn hóa của địa phương, việc nhận dạng và phát huy được tính độc đáo từ ý thức của người sử dụng; và quá trình khai thác của các nhà quản lý mang đến sự kết nối với văn hóa, bản sắc;
- Nơi chốn (đặc điểm của vật thể): KGCC đòi hỏi các giải pháp quy hoạch, thiết kế và quản lý hiệu quả, có chiều sâu để đảm bảo các địa điểm luôn thu hút và tạo cảm giác thích được trải nghiệm nhiều lần đối với người sử dụng;
- Gắn bó với địa điểm (sinh hoạt và ý nghĩa): Đời sống cộng đồng, các sinh hoạt xã hội tại KGCC - sự kết hợp giữa hàng xóm, gia đình, bạn bè và cộng đồng lớn hơn, tạo niềm vui và làm cho cuộc sống có ý nghĩa hơn.
Theo đó, chất lượng của KGCC sẽ được đánh giá theo các tiêu chí dựa vào kết quả của các câu hỏi khảo sát và phương pháp quy đổi sang giá trị định lượng (tham khảo Dự án GPS được Chính phủ Úc sử dụng đánh giá chất lượng các công viên thực tế, và triển khai bởi chính quyền địa phương NSW, từ năm 2000 - 2005) gồm các tiêu chí như sau:
i) Tiêu chí 1: Tính kết nối. Một trong những tiêu chí quan trọng đầu tiên để mọi người có thể tiếp cận dễ dàng. Để thuận lợi cho khả năng tiếp cận, phương tiện giao thông công cộng cần được ưu tiên có bến dừng, bến đón thuận tiện. Khu vực để xe đạp, xe máy, xe ô tô cần đảm bảo diện tích đậu khi cần thiết.
ii) Tiêu chí 2: Đa chức năng không gian sử dụng. Chức năng chính của công viên sẽ được tích hợp với nhiều chức năng khác như thể thao, cảnh quan, sinh hoạt cộng đồng, chơi trẻ em, dưỡng sinh... được vận hành bởi các nhà quản lý cùng với những chính sách tái tạo không gian hấp dẫn và mọi đối tượng đều được tham gia thoải mái nhưng vẫn đảm bảo các chỉ tiêu diện tích mảng xanh chung của toàn thành phố.
iii) Tiêu chí 3: Cảm nhận nơi chốn. Tính nơi chốn được cảm nhận từ việc mọi người sử dụng không gian công viên với tinh thần thoải mái, cảm thấy an toàn; và các yếu tố về cảnh quan, vật chất, tiện nghi, tạo nên một không gian công viên gần gũi. Đặc tính nơi chốn của CVCC có thể gắn liền với các yếu tố thiên nhiên như cây xanh, mảng xanh lớn tạo nên bóng mát, kết hợp với các không gian sinh hoạt thư giãn tạo cảm giác dễ chịu nhất.
iii) Tiêu chí 4: Kết nối cộng đồng. Khi tham gia tại các CVCC, người tham gia được khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho kết nối thêm nhiều bạn bè, chia sẻ nhiều kiến thức... Ngoài ra, không gian này còn có thể được sử dụng để giới thiệu, quảng bá, tổ chức các hoạt động về văn hóa, nghệ thuật của địa phương.
3. Thực trạng và đánh giá hiệu quả của các công viên tại khu trung tâm TP.HCM
3.1. Thực trạng phát triển các CVCC tại khu trung tâm (930ha)
Tại TP.HCM, khu trung tâm hiện hữu được hình thành theo các đồ án quy hoạch từ khoảng năm 1862 với dự án “Thành phố Sài Gòn 500.000 dân”, với chỉ tiêu ban đầu khoảng 50m2/người gồm cả đường sá, công viên... Diện tích khu trung tâm 930ha được xác định từ đồ án quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị tỷ lệ 1/2000 cho khu trung tâm hiện hữu TP.HCM, theo quyết định số 6708/QĐ-UBND ngày 29/12/2021.
Với tốc độ phát triển như hiện nay, khu vực trung tâm cũng không tránh khỏi xu hướng đô thị hóa diễn ra nhanh khi dân số tăng cùng với các hoạt động kinh tế xã hội ngày càng nhiều (Cục thống kê TP.HCM, 2023, tr. 56); trong khi quỹ đất phát triển tại trung tâm có giới hạn.
Do đó, việc ưu tiên dành quỹ đất cho công viên công cộng tại khu vực trung tâm được xem là một trong các mục tiêu trọng điểm, nhưng gặp nhiều khó khăn khi triển khai thực tế. Nhiều giải pháp về chính sách và cơ chế quản lý đã được chính quyền địa phương đề ra nhằm khắc phục thực trạng thiếu chỉ tiêu diện tích mảng xanh, công viên công cộng như:
- Chương trình phát triển công viên và cây xanh công cộng giai đoạn 2020-2030 (Quyết định số 2198/QĐ-UBND ngày 17/6/2021);
- Kế hoạch thực hiện chương trình phát triển công viên, cây xanh công cộng trên địa bàn TP.HCM, trước khi sáp nhập (theo Quyết định số 1540/QĐ-UBND ngày 10/5/2022).
Theo đó, chính quyền thành phố đã và đang đặt ra mục tiêu phát triển các mảng xanh CVCC nhằm đạt chỉ tiêu 1m2/người, tương đương diện tích công viên tăng thêm 510ha đến năm 2025 tập trung chủ yếu các khu vực ngoại thành. Đến nay, những chương trình và đề án liên quan đến phát triển công viên trong đô thị tuy đã triển khai nhưng vẫn chưa đạt hiệu quả theo như kỳ vọng liên quan một số vấn đề chính như sau:
i) Hiện trạng chưa đáp ứng tốt nhu cầu sử dụng - thiếu công cụ và quá trình đánh giá hiệu quả, đặc biệt là khu vực trung tâm hiện hữu với hơn 42ha diện tích công viên công cộng chưa được sự quan tâm về quy định quản lý, cải tạo, phát triển.
ii) Quỹ đất phát triển còn hạn chế trong khi các mảng xanh tại công viên đang có xu hướng từng bước bị thu nhỏ lại do nhiều yếu tố như đô thị hóa, công tác rà soát quy hoạch, khai thác; trong khi đó các chức năng hoạt động truyền thống chưa có những cải tiến mang tính tích hợp mục tiêu thích ứng BĐKH chẳng hạn như ngập, lụt, liên quan khả năng trữ nước của đô thị - diện tích mặt phủ thẩm thấu…
iii) Các chính sách thu hút đầu tư và nguồn vốn chưa thật sự hấp dẫn.
3.2. Đánh giá tính hiệu quả của 10 công viên tại khu trung tâm
Các hoạt động tại 10 công viên trong phạm vi nghiên cứu được đánh giá bằng phiếu khảo sát, và quan sát thực tế. Theo khảo sát thực tế, một số hoạt động được nhóm tác giả ghi nhận, tổng hợp dưới đây:
Tần suất diễn ra các hoạt động tại công viên phản ánh các chức năng khác nhau mà mọi người thường xuyên sử dụng, hoặc các chức năng còn thiếu, chưa phù hợp với nhu cầu. Điển hình công viên 23/9, hoạt động đi dạo, đi bộ số lượng người tham gia với tỷ lệ 30% cao hơn các hoạt động còn lại (khoảng 15%) cho thấy chức năng, tính hiệu quả của các không gian trong công viên đang có vấn đề hạn chế về tính hấp dẫn - hiệu quả khai thác, dẫn đến mọi người không lựa chọn để tham gia.
3.3 Phân tích kết quả khảo sát và một số giải pháp đề xuất
Từ các kết quả của phân tích thực trạng và đặc điểm của 10 công viên trong phạm vi nghiên cứu tại khu trung tâm TP.HCM; kết hợp với các cơ sở khoa học liên quan đến các tiêu chí cho khả năng bố trí và quản lý một số hoạt động, nhóm tác giả đề xuất áp dụng phương pháp đánh giá hiệu quả sử dụng và khai thác các không gian chức năng dựa trên khung tiêu chí đánh giá từ dự án GPS (Jan-Gehl, 2021).
Kết quả cho thấy có 6/10 công viên đạt dưới 10/20 điểm, khoảng 60% diện tích tổng cộng của 10 công viên (tương đương 225,39ha) khu chức năng được đánh giá còn kém hiệu quả khi chiếm dụng diện tích mặt đất. Áp dụng khung đo lường của các tiêu chí đã được trình bày, đối chiếu với các kết quả khảo sát ý kiến của 100 người tham gia tại 10 công viên thuộc khu vực nghiên cứu, kết quả được ghi nhận tại bảng dưới đây:
Bảng 1. Tổng hợp kết quả đánh giá mức độ đáp ứng các tiêu chí của 10 công viên tại khu trung tâm TP.HCM

Ghi chú: Người thực hiện khảo sát đánh giá theo thang điểm trên vào từng nhóm câu hỏi cho 04 tiêu chí. Kết quả tổng mỗi tiêu chí (điểm số trung bình) được tính là tổng số điểm trả lời nhóm câu hỏi chia cho số câu hỏi đã trả lời. Điểm số trung bình cao nhất của mỗi tiêu chí là 5 điểm; Bảng khảo sát đánh giá tương ứng với 5 mức điểm: (1): Hoàn toàn không đồng ý; (2): Không đồng ý; (3): Trung lập; (4): Đồng ý; (5): Hoàn toàn đồng ý
Việc đánh giá hiệu quả chức năng của 10 công viên tại khu vực trung tâm 930ha tại TP.HCM sẽ giúp cho chính quyền địa phương tiếp cận các giải pháp phát triển - nâng cao và cải tiến chất lượng dịch vụ. Bằng phương pháp tham khảo khung tiêu chí đánh giá từ dự án thực tế như đã trình bày và vận dụng thành công bộ 04 tiêu chí hướng dẫn đã trình bày, kết quả cho thấy:
- Có 06/10 công viên có điểm tiêu chí 2 (đa chức năng) thấp nhất so với các tiêu chí còn lại (công viên 23/9, công viên 30/4, công viên Chi Lăng, công viên Bách Tùng Diệp, công viên Lam Sơn, công viên tượng đài Bác); đây được xem là một hạn chế lớn nhất đối với các công viên được khảo sát tại khu vực 930ha.
- Đối với trường hợp công viên điển hình 23/9 với thực trạng chỉ có khoảng 45% diện tích là mảng xanh (thấp hơn nhiều so với các tiêu chí chung của công viên trên thế giới - khoảng 90% trở lên).
Dựa trên các kết quả khảo sát, phân tích đặc điểm hiện trạng của các công viên này, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp quản lý và tổ chức các không gian chức năng còn nhiều điểm hạn chế, nhược điểm, nhằm phát triển các chức năng truyền thống của một số công viên như không gian sinh hoạt nhóm, hoạt động trẻ em, tham quan, thể dục… nhưng vẫn phát huy giá trị của mảng xanh đem lại đối với môi trường... (tham khảo hình minh hoạt bên dưới
4. Kết luận và kiến nghị
Trong bối cảnh dân cư ngày càng tập trung đông tại các khu vực trung tâm đô thị, việc tìm kiếm quỹ đất để phát triển diện tích công viên nhằm đáp ứng nhu cầu cộng đồng đang gặp nhiều khó khăn. Trước thực trạng “đất càng chật, người càng đông”, các CVCC tích hợp đa chức năng được xem là giải pháp phù hợp giúp các đô thị lớn và siêu đô thị thích ứng với áp lực gia tăng dân số và hạn chế về không gian, đặc biệt tại các khu vực trung tâm.
Bên cạnh mục tiêu đáp ứng các chức năng ngày càng hiệu quả - dựa trên các tiêu chí tham khảo từ các dự án đã nghiên cứu và áp dụng trên thế giới, việc quản lý các chức năng phát triển theo chiều cao được xem là giải pháp mang tính chiến lược thích ứng với BĐKH, trong đó có mục tiêu tăng khả năng hấp thụ nước bằng các mảng xanh và mặt nước trong công viên (thẩm thấu và trữ nước trong khu vực nội đô).
Theo đó, tiêu chí đa chức năng theo hướng tích hợp, chú trọng phát triển không gian theo chiều cao được các chuyên gia đề xuất là phù hợp, và nhóm tác giả chú trọng đề xuất áp dụng đối với các công viên tại khu trung tâm 930ha của TP.HCM.
Dựa trên các kết quả khảo sát, đánh giá định lượng theo khung tiêu chí đánh giá đã được trình bày, bài viết này trình bày một số kiến nghị đối với công tác quản lý CVCC góp phần nâng cao tính hiệu quả dài hạn như sau:
- Các CVCC cần thường xuyên được đánh giá rõ ràng theo các tiêu chí đã đề ra và phù hợp với nhu cầu sử dụng, định hướng phát triển của thành phố;
- Việc quản lý quy hoạch đối với CVCC không đơn thuần là một bộ phận cơ quan mà là sự phối của nhiều đơn vị cơ quan quản lý. Vì vậy, quá trình quản lý công viên công cộng sẽ phát sinh các vấn đề chồng chéo. Do đó, chính quyền nên thành lập hệ thống và cơ chế quản lý các CVCC trên toàn thành phố có tính thống nhất, đồng bộ và khai thác hiệu quả.
- Việc quản lý quy hoạch đối CVCC không chỉ thuộc trách nhiệm của một cơ quan mà là kết quả của sự phối hợp giữa nhiều đơn vị quản lý khác nhau. Do đó, quá trình này dễ phát sinh tình trạng chồng chéo và thiếu nhất quán. Vì vậy, chính quyền cần xây dựng một hệ thống và cơ chế quản lý thống nhất, đồng bộ nhằm nâng cao hiệu quả khai thác các CVCC trên toàn thành phố.
- Không gian CVCC là nơi diễn ra các hoạt động tự do, không tốn chi phí, góp phần nâng cao chất lượng sống cho cộng đồng. Để cả nhà đầu tư và cộng đồng nhận thức đầy đủ về giá trị kinh tế lẫn xã hội mà công viên mang lại, chính quyền đô thị cần xây dựng các chính sách phù hợp nhằm tạo cơ chế khai thác hiệu quả giữa dịch vụ công và dịch vụ có thu phí.
* Tiêu đề do Toà soạn đặt - Mời xem file PDF tại đây
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1]. Bosch V.D., Matilda, Nieuwenhuijsen, Mark. (2017). No time to lose - Green the cities now. Environ. Int. 99,343-350; No time to lose - Green the cities now - ScienceDirect
[2]. Engemann, K. (2019). Residential green space in childhood is associated with lower risk of psychiatric disorders from adolescence into adulthood. PNAS 116, 5188–5193.
[3]. Bratman, G.N. (2015). Nature experience reduces rumination and subgenual prefrontal cortex activation. Proc. Natl. Acad. Sci. USA 112, 8567-8572. https://doi. org/10.1073/pnas.1510459112.
[4]. Fergusona, M., Roberts, H.E., McEachanc, R.R.C., Dallimer, M. (2018). Contrasting distributions of urban green infrastructure across social and ethno-racial groups. Landsc. Urban Plan. 175, 136-148.
[5]. Fuller, R.A., Gaston, K.J. (2009). The scaling of green space coverage in European cities. Biol. Lett. 5 (3), 352-355. https://doi.org/10.1098/rsbl.2009.0010.
[6]. Alberta Parks and Recreation Association (2002). A Re-established Urban Parks Program.
[7]. Witteman O. (2021). Health Effects of Climate Change: an Overview of Systematic Reviews.
[8]. Oliveira, S., Andrade, H., Vaz, T. (2011). The cooling effect of green spaces as a contribution to the mitigation of urban heat: a case study in Lisbon. Build. Environ. 46 (11), 2186–2194. https://doi.org/10.1016/j.buildenv.2011.04.034. Piao, S., et al., 2020. Characteristics, drivers and feedback of global greening. Nat. Rev. Earth Environ. 1, 14-27.
[9]. Easterling, D.R., (2000). Climate extremes: observations, modeling, and impacts. Science 289, 2068–2074. https://doi.org/10.1126/science.289.5487.2068.
[10]. Xu, C. et al., 2020. Future of the human climate niche. Proceedings of the National
[11]. Academy of Sciences of the United States of America, 117 (21). doi: 10.1073/pnas.1910114117.
[12]. DeKay M. (2001). Sun, wind & light: Architectural Design Strategies, 2nd edition. https://www.researchgate.net/publication/301626264_SUN_WIND_LIGHT_Architectural_Design_Strategies_2nd_edition., ISBN: 858-9751052107
[13]. Cục thống kê TP.HCM., 2023, Niên giám thống kê. 56
[14]. Koh D. (2007), Modern Law, Traditional Ethics, and Contemporary Political Legitimacy in Vietnam. New York: Palgrave Macmillan.
[15]. Habermas. J (1989), The Structural Transformation of the Public Sphere: An Inquiry into a Category of Bourgeois Society, translated by Thomas Burger with the assistance of Frederick Lawrence. Cambridge: Polity Press
[16]. Lefebvre. J. M. (1991), Introduction to Landscape Design, Van Nostrand Reinhold.
[17]. Gomez, E., Joshua W. R., Hill E., and Georgiev S. (2015). “Urban Parks and Psychological Sense of Community.” Journal Of Leisure Research 47, no. 3: 388-398. SPORT Discus with Full Text, EBSCOhost (accessed January 4, 2016).
[18]. Cassidy, A. V., Wright, W. A., Strean, W. B., and Watson, G. L. (2015). The Interplay of Space, Place and Identity: Transforming Our
[19]. Learning Experiences in an Outdoor Setting. Collected Essays on Learning and Teaching, 827-34.
[20]. Statistics Canada. 2011. Commuting to Work. https://www12.statcan.gc.ca/nhs-enm/2011/as-sa/99-012-x/99-012-x2011003_1 eng.cfm

Phân tích hiệu quả sử dụng 10 công viên tại khu vực trung tâm TP.HCM, bài viết trình bày kết quả đánh giá dựa trên bộ tiêu chí quốc tế về khai thác công viên. Từ đó, đề xuất định hướng phát triển công viên theo hướng tích hợp chức năng để nâng cao hiệu quả khai thác và sử dụng. 

