Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư xây dựng trường học giai đoạn 2026 - 2035

Bài báo làm rõ các nội dung về nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư xây dựng hệ thống trường học theo Chương trình mục tiêu quốc gia về giáo dục giai đoạn 2026 - 2035.
Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư xây dựng trường học giai đoạn 2026 - 2035
Ảnh do Canva AI tạo

1. Đặt vấn đề

Chương trình mục tiêu quốc gia hiện đại hóa, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo giai đoạn 2026 - 2035 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025 bằng Nghị quyết số 249/2025/QH15 [5]. Chương trình bao gồm 05 dự án, trong đó Dự án 1: “Bảo đảm cơ sở vật chất, trang thiết bị đáp ứng yêu cầu thực hiện chương trình giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông” có vốn đầu tư chiếm tỷ trọng lớn trong tổng vốn đầu tư của chương trình. 

Khi xem xét một dự án đầu tư xây dựng thường xem xét các mặt: sự cần thiết phải đầu tư; tính khả thi của dự án; tính hiệu quả của dự án; nguồn vốn, mức vốn, hiệu quả sử dụng vốn... Việc xem xét tính hiệu quả của việc sử dụng nguồn vốn có ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đến các mặt còn lại trong đó ảnh hưởng lớn nhất  đến tính hiệu quả của dự án.

Hiệu quả của dự án đầu tư xây dựng hệ thống trường học trong Chương trình mục tiêu quốc gia về giáo dục và đào tạo giai đoạn 2026 - 2035 đã được nhóm tác giả phân tích trong một nghiên cứu trước. Trên cơ sở đó, bài báo này tập trung nghiên cứu hiệu quả sử dụng vốn đầu tư xây dựng hệ thống trường học thuộc Chương trình.

Đây là chương trình có quy mô vốn lớn, nguồn vốn chủ yếu từ ngân sách nhà nước và mang những đặc thù riêng của lĩnh vực giáo dục và đào tạo, nên việc nghiên cứu hiệu quả sử dụng vốn có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn.

Mục tiêu của bài báo là nhận diện các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn đầu tư xây dựng hệ thống trường học, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn trong quá trình triển khai Chương trình.

2. Quy mô và nguồn vốn đầu tư hệ thống trường học trong chương trình mục tiêu quốc gia về giáo dục và đào tạo giai đoạn 2026 - 2035 

Từ nhu cầu đầu tư của các địa phương và các nội dung đầu tư được thực hiện từ các Chương trình mục tiêu quốc gia khác, kết quả tính toán và đề xuất kinh phí cụ thể [6], [8], [10]: 

- Kiên cố hóa trường, lớp học: xây dựng thay thế các phòng học tạm thời, xuống cấp của các cấp học mầm non, phổ thông (không bao gồm các trường phổ thông tại các xã đặc biệt khó khăn, được thực hiện tại Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026 - 2030), xây dựng 64.531 phòng học với nhu cầu vốn khoảng 51.427 tỷ đồng;

- Phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em từ 3 đến 5 tuổi: Xây dựng bổ sung đủ số phòng học, bảo đảm huy động trẻ em đến trường, bổ sung thiết bị dạy học thực hiện chương trình giáo dục mầm non, xây dựng bổ sung 37.412 phòng học và 48.805 bộ thiết bị dạy học với nhu cầu vốn khoảng 47.961 tỷ đồng;

- Xây dựng bổ sung các hạng mục phục vụ cho sinh hoạt, nuôi dưỡng, chăm sóc học sinh nội trú; nhà công vụ cho giáo viên các trường phổ thông tại các vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo để nâng cấp, thành lập các trường phổ thông nội trú (không bao gồm các trường phổ thông dân tộc nội trú, phổ thông dân tộc bán trú được thực hiện tại Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026 - 2030), xây dựng 2.057 nhà bếp, 1.621 kho bếp, 1.793 nhà ăn, 29.441 phòng ở nội trú học sinh, 2.440 phòng quản lý học sinh, 1.272 phòng sinh hoạt chung, 884 nhà văn hóa, 2.087 nhà vệ sinh - công trình nước sạch, 1.849 hạng mục hạ tầng kỹ thuật và 10.794 nhà công vụ cho giáo viên với nhu cầu vốn khoảng 22.841 tỷ đồng.

- Bảo đảm điều kiện tối thiểu về trang thiết bị dạy học đáp ứng nhu cầu tối thiểu của chương trình giáo dục các cấp, nâng cao kỹ năng thực hành cho học sinh, bổ sung 204.990 bộ thiết bị dạy học với nhu cầu vốn khoảng 36.585 tỷ đồng;

- Xây dựng bổ sung các phòng học bảo đảm đu phòng học trên lớp, phòng học bộ môn bảo đảm thực hiện chương trình giáo dục phổ thông (không bao gồm các trường phổ thông dân tộc nội trú, trường phổ thông dân tộc bán trú, được thực hiện tại Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026 - 2030, các phòng học bộ môn các môn học nghệ thuật được thực hiện tại Chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển văn hóa giai đoạn 2025 - 2035), xây dựng bổ sung 23.985 phòng học và 15.557 phòng học bộ môn với nhu cầu vốn khoảng 43.186 tỷ đồng;

Tổng vốn thực hiện dự án giai đoạn 2026 - 2035: 202.000 tỷ đồng. Được chia làm 2 giai đoạn:

- Giai đoạn 1, dự kiến tổng vốn thực hiện dự án giai đoạn 2026 - 2030 là khoảng 80.000 tỷ đồng, bao gồm:

+ Vốn đầu tư công: 32.000 tỷ đồng (chiếm 40%);

+ Vốn NSĐP (vốn đầu tư công): 40.000 tỷ đồng (chiếm 50%);

+ Vốn huy động hợp pháp khác: 8.000 tỷ đồng (chiếm 10%).

- Giai đoạn 2, dự kiến tổng vốn thực hiện dự án giai đoạn 2031-2035 là khoảng 122.000 tỷ đồng, bao gồm:

+ Vốn đầu tư công: 48.800 tỷ đồng (chiếm 40%);

+ Vốn NSĐP (vốn đầu tư công): 61.000 tỷ đồng (chiếm 50%);

+ Vốn huy động hợp pháp khác: 12.200 tỷ đồng (chiếm 10%).

Bảng 1. Nguồn vốn đầu tư vào các hạng mục hệ thống trường học 

Hạng mục

Nhu cầu vốn (tỷ đồng)

Kiên cố hóa trường lớp

51.427

Phổ cập giáo dục mầm non

47.961

Phòng học, phòng bộ môn

43.186

Thiết bị dạy học

36.585

Nội trú, nhà công vụ giáo viên

22.841

Tổng cộng

202.000

Có thể đánh giá đây là đề xuất đầu tư có quy mô lớn, mục tiêu rõ ràng, cơ cấu đầu tư tương đối hợp lý và hướng trực tiếp vào những điểm nghẽn của hệ thống giáo dục hiện nay. Từ số liệu về vốn và nguồn vốn cũng như cách phân bổ nguồn vốn ở trên, ta thấy vốn đầu tư được sử dụng như sau [9]:

Thứ nhất, cơ cấu đầu tư tương đối hợp lý khi tập trung vào các nhóm nhu cầu cấp thiết.

Thứ hai, khoảng 70% nguồn lực được dành cho xây dựng cơ sở vật chất trường lớp, phản ánh đúng thực trạng thiếu phòng học và xuống cấp của nhiều cơ sở giáo dục hiện nay.

Thứ ba, phương án huy động vốn thể hiện nguyên tắc chia sẻ trách nhiệm giữa Trung ương và địa phương:

- Ngân sách Trung ương: 40%. 

- Ngân sách địa phương: 50%. 

- Nguồn huy động hợp pháp khác: 10%. 

Với cơ cấu vốn này, mặc dù giúp giảm áp lực cho ngân sách Trung ương nhưng đồng thời đặt ra yêu cầu khá cao đối với địa phương. Việc phân bổ vốn theo tỷ lệ trên cho thấy sự đề cao trách nhiệm của chính quyền địa phương; tuy nhiên lại là thách thức cho địa phương nghèo về tính khả thi của tỷ lệ vốn đối ứng từ ngân sách địa phương, đặc biệt là với các tỉnh chưa tự cân đối được ngân sách. Việc yêu cầu địa phương gánh vác 50% vốn đầu tư công có thể gây khó khăn cho những vùng sâu, vùng xa. Tuy nhiên, thách thức lớn nhất nằm ở khả năng giải ngân và nguồn vốn đối ứng từ các địa phương khó khăn. 

Từ góc độ nghiên cứu "hiệu quả sử dụng vốn đầu tư", đây là chương trình có ý nghĩa rất lớn vì không chỉ tạo ra các công trình xây dựng mà còn tạo ra nhiều lợi ích xã hội lâu dài:

- Tăng tỷ lệ huy động trẻ đến trường. 

- Giảm học ca ba, học trong phòng học tạm. 

- Cải thiện điều kiện dạy và học. 

- Thu hút, giữ chân giáo viên vùng khó khăn. 

- Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. 

- Góp phần phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh ở vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo. 

3. Hiệu quả sử dụng vốn đầu tư xây dựng hệ thống trường học theo chương trình mục tiêu quốc gia về giáo dục và đào tạo giai đoạn 2026 - 2035

3.1. Tính hiệu quả của dự án

Dự án đầu tư xây dựng được thực hiện và quản lý qua 3 giai đoạn: giai đoạn chuẩn bị dự án, giai đoạn thực hiện dự án, giai đoạn kết thúc dự án đưa vào khai thác sử dụng; Nhà nước, chủ đầu tư quản lý các công việc (lập, thẩm định phê duyệt quy hoạch, dự án đầu tư; thiết kế, thẩm định phê thiết kế, dự toán công trình; lựa chọn nhà thầu tư vấn, thi công; thi công xây dựng công trình) của 3 giai đoạn này [3].

Để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của dự án đầu tư xây dựng nói chung, điều kiện tiên quyết là dự án phải đạt mục tiêu đề ra; riêng dự án đầu tư xây dựng hệ thống trường học theo chương trình mục tiêu quốc gia phải đạt được mục tiêu tổng hợp về kinh tế - chính trị - an ninh quốc phòng và môi trường; đồng thời phải có qui trình, cách thức quản lý các công việc trong 3 giai đoạn là tối ưu nhất về chất lượng, thời gian, chi phí để đạt mục tiêu này.

Hiệu quả sử dụng vốn đầu tư xây dựng hệ thống trường học là việc sử dụng nguồn vốn đúng mục tiêu, tiết kiệm, hợp lý và tạo ra giá trị giáo dục, kinh tế, xã hội cao nhất cho Nhà nước và cộng đồng.

Vốn đầu tư xây dựng nói chung, vốn đầu tư xây dựng hệ thống trường học chương trình mục tiêu quốc gia về giáo dục và đào tạo nói riêng phải được  quản lý qua các giai đoạn và công cụ quản lý vốn đầu tư [1], [2]:

Các giai đoạn quản lý vốn đầu tư phải bắt đầu từ khi chuẩn bị dự án, đến các giai đoạn thực hiện dự án và giai đoạn kết thúc xây dựng đưa dự án vào khai thác để thu hồi vốn và lợi nhuận cần thiết.

Các công cụ quản lý vốn đầu tư bao gồm:

+ Dự án đầu tư được lập với một chất lượng bảo đảm

+ Các văn bản pháp luật có liên quan như Luật, Nghị định, Thông tư hướng dẫn thực hiện.

+ Các cơ quan nhà nước có liên quan như Bộ Tài chính, Bộ Xây dựng, Ngân hàng Nhà nước, các tổ chức tài trợ...

+ Các quy định về chống tiêu cực trong đầu tư

Hiệu quả sử dụng vốn đầu tư xây dựng hệ thống trường học theo chương trình mục tiêu quốc gia về giáo dục và đào tạo là mức độ sử dụng nguồn vốn đầu tư để tạo ra hệ thống trường học đạt chất lượng, đáp ứng nhu cầu học tập của nhân dân, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục và phát triển kinh tế - xã hội với chi phí hợp lý và bền vững.

Tuy nhiên, hiệu quả sử dụng vốn đầu tư xây dựng hệ thống trường học này phụ thuộc vào:

Khả năng cân đối ngân sách Trung ương và địa phương; đặc biệt là những tỉnh còn khó khăn về nguồn thu ngân sách.

Tiến độ giải ngân vốn đầu tư công. 

Công tác quy hoạch mạng lưới trường lớp. 

Năng lực quản lý dự án ở địa phương. 

Công tác bảo trì, vận hành sau đầu tư. 

Do đặc thù của dự án đầu tư hệ thống trường học thuộc chương trình mục tiêu quốc gia nên hiệu quả thực sự của 202.000 tỷ đồng sẽ không được quyết định bởi quy mô vốn đầu tư mà bởi chất lượng quy hoạch, lựa chọn dự án, quản lý thực hiện, tiến độ giải ngân và mức độ khai thác công trình sau đầu tư. Nói cách khác, trọng tâm không chỉ là "đầu tư bao nhiêu" mà còn là "đầu tư đúng nơi, đúng nhu cầu và sử dụng hiệu quả đến đâu".

3.2. Những thách thức và rào cản đối với hiệu quả đầu tư

Do nguồn vốn rất lớn, việc đạt được hiệu quả sử dụng vốn tối ưu phải đối mặt với những thách thức và rào cản thực tế [7]:
Năng lực tự chủ và đối ứng của địa phương có các trường: Kết quả khảo sát cho thấy tỷ lệ các địa phương có trường đầu tư chưa tự chủ hoàn toàn về chi thường xuyên vẫn còn rất cao. Việc thiếu vốn đối ứng dẫn đến trách nhiệm của địa phương đối với tiến độ công trình chưa cao, gây ra tình trạng chậm tiến độ thường xuyên.

Công tác thẩm định và hậu kiểm: Hiện nay, hệ thống đánh giá hiệu quả sau đầu tư tại Việt Nam vẫn chưa được xây dựng hoàn thiện. Nhiều dự án được phê duyệt dựa trên tính "cấp bách" mang tính tình thế thay vì tính chiến lược lâu dài. Khoảng 45,6% số dự án thậm chí không tính đến chi phí duy tu, bảo dưỡng công trình sau khi đưa vào sử dụng, gây ảnh hưởng đến tính bền vững của khoản đầu tư.

Rủi ro trượt giá và chậm giải ngân: Với chu kỳ thực hiện dài 10 năm, biến động kinh tế có thể làm tăng chi phí đầu tư, buộc phải điều chỉnh tổng mức đầu tư hoặc cắt giảm hạng mục, từ đó làm giảm lợi ích kỳ vọng của dự án.

3.3. Cơ cấu phân bổ vốn và hiệu quả trong xây dựng hạ tầng trường học

Hiệu quả của vốn đầu tư công trong giáo dục không chỉ được đo lường bằng số lượng công trình hoàn thành mà còn ở tính hợp lý trong phân bổ nguồn lực. Hiện nay, có một số vấn đề đáng lưu ý về cơ cấu vốn ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả sử dụng:

Tỷ trọng vốn đầu tư xây dựng cơ bản chiếm ưu thế tuyệt đối [9]: Theo số liệu thảo luận tại Quốc hội, tỷ trọng vốn đầu tư công (chủ yếu là xây dựng cơ bản và mua sắm trang thiết bị) chiếm đến 83,91% trong giai đoạn 2026 - 2030 và tăng lên 90,27% trong giai đoạn 2031 - 2035.

Trong khi đó, chi thường xuyên dành cho đào tạo, bồi dưỡng con người chỉ chiếm tỷ lệ tương ứng là 10,9% và 5,5%. Một số chuyên gia lo ngại rằng việc dồn quá nhiều vốn vào "phần cứng" (xây dựng) mà thiếu sự đầu tư tương xứng cho "phần mềm" (con người) có thể làm giảm hiệu quả thực chất của giáo dục.

Sự mất cân đối giữa hai giai đoạn: Việc bố trí vốn cho giai đoạn đầu (2026 - 2030) chỉ chiếm khoảng 30% tổng nguồn lực đang tạo ra áp lực rất lớn cho giai đoạn sau. Điều này có thể dẫn đến nguy cơ dồn việc, chậm giải ngân và làm giảm tiến độ hoàn thành các mục tiêu nền tảng như kiên cố hóa trường lớp tại các vùng khó khăn.

Ưu tiên cho các khu vực yếu thế: Để tối ưu hóa hiệu quả xã hội, Chính phủ ưu tiên hỗ trợ các địa phương nhận bổ sung cân đối ngân sách từ Trung ương từ 60% trở lên. Vốn sẽ tập trung trước cho các vùng dân tộc thiểu số, miền núi, biên giới và hải đảo để tạo chuyển biến thực chất ngay từ giai đoạn đầu.

3.4. Đánh giá hiệu quả sử dụng vốn theo các chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật

Trên cơ sở các quy định về đầu tư xây dựng tại Việt Nam, hiệu quả sử dụng vốn được đánh giá qua các nhóm chỉ tiêu sau [4]:

Hiệu quả tài chính và kinh tế - xã hội: Các dự án đầu tư trường học sử dụng vốn nhà nước thường ưu tiên đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội thông qua các tiêu chí định tính kết hợp định lượng. Hiệu quả được tính toán qua các chỉ số như giá trị hiện tại ròng (NPV), suất thu lợi nội tại (IRR), và tỷ suất lợi ích trên chi phí (BCR).

Năng suất lao động: Đầu tư công cho giáo dục được coi là một khoản đầu tư chiến lược để nâng cao năng suất quốc gia. Kinh nghiệm cho thấy giáo dục đại học và đào tạo nghề chỉ thực sự hiệu quả khi kết nối chặt chẽ giữa nhà trường và doanh nghiệp, chuyển hóa tri thức thành giá trị ứng dụng thực tế.

Hệ số ICOR (Tỷ lệ vốn đầu tư/tăng trưởng): Theo các dữ liệu lịch sử, hệ số ICOR của Việt Nam có xu hướng tăng cao (đạt mức 6,70 giai đoạn 2011 - 2012), cho thấy hiệu quả sử dụng vốn trong khu vực kinh tế nhà nước còn thấp và dàn trải. Việc triển khai CTMTQG 2026-2035 đòi hỏi một cơ chế giám sát chặt chẽ từ khâu quy hoạch đến thi công để tránh thất thoát và lãng phí vốn.

4. Một số đề xuất định hướng nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư xây dựng hệ thống trường học theo chương trình mục tiêu quốc gia về giáo dục và đào tạo giai đoạn 2026 - 2035

Để bảo đảm nguồn vốn 202.000 tỷ đồng được sử dụng hiệu quả, cần thực hiện đồng bộ các giải pháp sau:

Cần có sự linh hoạt trong việc giao mức vốn huy động của các địa phương (căn cứ vào đặc thù của từng địa phương, khả năng cân đối ngân sách Trung ương và địa phương)

Nâng cao trình độ quản lý của chính quyền địa phương (Năng lực quản lý dự án ở địa phương)

Công tác giải ngân vốn đầu tư công: Chính phủ cũng đã nhấn mạnh việc phải gắn trách nhiệm người đứng đầu với kết quả giải ngân để đảm bảo các con số này thực sự biến thành trường lớp trên thực tế.

Hoàn thiện, bổ sung các văn bản qui phạm pháp luật về quản lý dự án đầu tư công, cơ chế, chính sách về giải ngân vốn đầu tư công.

Công tác quy hoạch mạng lưới trường lớp phải có căn cứ khoa học, phải bám sát vào chủ trương đường lối của Đảng và Nhà nước đồng thời có tính đến tính đặc thù của các địa phương

Công tác bảo trì, vận hành sau đầu tư phải được chú trọng đúng mức.

Xây dựng bộ tiêu chí ưu tiên minh bạch: Phân bổ vốn dựa trên kết quả hoạt động, mức độ tự chủ và sự phù hợp với chiến lược phát triển quốc gia thay vì phân bổ cào bằng. Ưu tiên cấp vốn cho các trường có cam kết đối ứng cao và xếp hạng chất lượng tốt.

Đổi mới cơ chế tài chính: Chuyển dịch từ "chi tiêu hành chính" sang "đầu tư theo hiệu quả". Cần tăng tỷ trọng chi thường xuyên cho đào tạo giáo viên và chuyển đổi số (trường học thông minh, ứng dụng AI) để đồng bộ với hạ tầng vật chất.

Tăng cường giám sát và chuyển đổi số: Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý dự án và xây dựng cơ sở dữ liệu chung để theo dõi tiến độ giải ngân thời gian thực. Đồng thời, cần sớm thành lập các Ban tư vấn độc lập để chấm điểm và thẩm định các dự án đầu tư một cách khách quan.

Tích hợp hạ tầng hiện đại: Các công trình mới không chỉ là những khối bê tông mà phải là không gian học tập thông minh, thư viện điện tử và hệ thống thực hành hiện đại nhằm thu hút sinh viên và thúc đẩy sự hứng thú học tập.

5. Kết luận

Chương trình mục tiêu quốc gia hiện đại hóa, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo giai đoạn 2026 - 2035 là một chương trình đầu tư công có quy mô rất lớn, với tổng mức vốn dự kiến 580.000 tỷ đồng trong đó đầu tư cho cơ sở vật chất trường học là 202.000 tỷ đồng, tập trung giải quyết những hạn chế cốt lõi về cơ sở vật chất và trang thiết bị của hệ thống giáo dục.

Qua nghiên cứu cho thấy, hiệu quả sử dụng vốn đầu tư xây dựng hệ thống trường học không chỉ được phản ánh ở việc hoàn thành các công trình đúng tiến độ, đúng chất lượng và tiết kiệm chi phí, mà quan trọng hơn là khả năng tạo ra những giá trị bền vững về giáo dục, kinh tế - xã hội.

Nếu được triển khai hiệu quả, chương trình sẽ góp phần nâng cao chất lượng dạy và học, tăng tỷ lệ huy động học sinh đến trường, cải thiện điều kiện công tác của giáo viên, thu hẹp khoảng cách giáo dục giữa các vùng miền và thúc đẩy phát triển nguồn nhân lực quốc gia.

Tuy nhiên, hiệu quả của nguồn vốn đầu tư không phụ thuộc vào quy mô vốn mà chủ yếu được quyết định bởi chất lượng quy hoạch mạng lưới trường lớp, công tác lựa chọn dự án, năng lực quản lý đầu tư xây dựng, tiến độ giải ngân, cơ chế phân bổ nguồn lực và việc quản lý, khai thác công trình sau đầu tư.

Trong bối cảnh nhiều địa phương còn gặp khó khăn về nguồn lực tài chính, việc bảo đảm tính khả thi của vốn đối ứng, đồng thời tăng cường giám sát, minh bạch và ứng dụng chuyển đổi số trong quản lý đầu tư là những yêu cầu đặc biệt quan trọng.

Trên cơ sở đó, bài báo đã đề xuất một số định hướng nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư, bao gồm hoàn thiện cơ chế chính sách, điều chỉnh hợp lý cơ cấu nguồn vốn, nâng cao năng lực quản lý của địa phương, đẩy nhanh giải ngân, tăng cường giám sát độc lập, ứng dụng công nghệ số và xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá hiệu quả đầu tư theo kết quả đầu ra.

Những giải pháp này không chỉ góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách nhà nước mà còn tạo cơ sở để Chương trình mục tiêu quốc gia về giáo dục và đào tạo giai đoạn 2026 - 2035 đạt được các mục tiêu phát triển bền vững, đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục trong giai đoạn mới.

Hiệu quả sử dụng vốn đầu tư xây dựng hệ thống trường học giai đoạn 2026 - 2035 phụ thuộc vào sự cân đối hợp lý giữa đầu tư cơ sở vật chất và đầu tư phát triển nguồn nhân lực, tính minh bạch trong phân bổ nguồn lực, cũng như năng lực của các địa phương và cơ sở giáo dục trong việc tiếp nhận, quản lý, khai thác và vận hành công trình sau đầu tư.

Việc triển khai hiệu quả Chương trình mục tiêu quốc gia về giáo dục và đào tạo giai đoạn 2026 - 2035 sẽ góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo nền tảng vững chắc cho phát triển kinh tế - xã hội và hiện thực hóa mục tiêu phát triển đất nước trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

* Tiêu đề do Tòa soạn đặt ► Mời xem fiel PDF tại đây

TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] GS.TSKH Nguyễn Văn Chọn. Kinh tế đầu tư xây dựng. NXB. Xây dựng, 2003.
[2] GS.TSKH Nguyễn Văn Chọn. Quản lý nhà nước về kinh tế và quản trị kinh doanh trong xây dựng. NXB. Xây dựng, 1999.
[3]  Nguyễn Văn Trung. Giáo trình Quản lý nhà nước về xây dựng. NXB. Xây dựng, 2025.
[4] TS Đinh Văn Khiên (chủ biên), ThS Hoàng Vân Giang, ThS Vũ Kim Dung,  ThS Nguyễn Thị Nha Tran, ThS Nguyễn Như Phiên. Phân tích kinh tế kỹ thuật trong đánh giá dự án đầu tư xây dựng công trình giao thông. NXB. Xây dựng, 2020.
[5] Quốc hội. Nghị quyết số 249/2025/QH15 ngày 10/12/2025 phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quôc gia hiện đại hóa, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo giai đoạn 2026 - 2035.
[6] Chính phủ. Báo cáo đề xuất chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia hiện đại hóa, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo giai đoạn 2026 - 2035, kèm theo Tờ trình số 1061/TTr-CP ngày 14/11/2025 trình Quốc hội.
[7] Phương Nhi. Đề xuất chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia hiện đại hóa, nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo. Báo Điện tử Chính phủ, Internet: https://baochinhphu.vn/de-xuat-chu-truong-dau-tu-chuong-trinh-muc-tieu-quoc-gia-hien-dai-hoa-nang-cao-chat-luong-giao-duc-dao-tao-102251114143240878.htm (truy cập: tháng 6/2026).
[8] Sơn Hà. Chính phủ đề xuất chương trình đầu tư cho giáo dục trị giá hơn 580.000 tỷ đồng. Báo điện tử VnExpress. Internet: https://vnexpress.net/chinh-phu-de-xuat-chuong-trinh-dau-tu-cho-giao-duc-tri-gia-hon-580-000-ty-dong-4965085.html (truy cập: tháng 6/ 2026).
[9] Hải Liên. Đầu tư cho giáo dục 2026-2035: Làm rõ mục tiêu, phân bổ và chất lượng đào tạo.  Báo điện tử Chính phủ. Internet: https://baochinhphu.vn/dau-tu-cho-giao-duc-2026-2035-lam-ro-muc-tieu-phan-bo-va-chat-luong-dao-tao-102251202184219718.htm (truy cập: tháng 6/2026).
[10] Tuyết Thư. Lập Hội đồng thẩm định Báo cáo đề xuất đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo giai đoạn 2026 - 2035.  Báo điện tử Chính phủ. Internet: https://baochinhphu.vn/lap-hoi-dong-tham-dinh-bao-cao-de-xuat-dau-tu-chuong-trinh-muc-tieu-quoc-gia-nang-cao-chat-luong-giao-duc-va-dao-tao-giai-doan-2026-2035-102250924165844864.htm (truy cập: tháng 6/2026).

Bình luận
Công ty IDECO Công ty portcoast
  • Dự án Monrei Saigon Thành phố thuỷ liệu đầu tiên tại Việt Nam