Theo Kết luận Thanh tra số 276/KL-TTCP, Thanh tra Chính phủ (TTCP) xác định các đơn vị trên chịu trách nhiệm trong việc chưa thực hiện đầy đủ, chặt chẽ, không đúng quy định về phát hành trái phiếu doanh nghiệp và sử dụng vốn từ trái phiếu doanh nghiệp.
Một số công ty chưa thực hiện đúng quy định về trách nhiệm của tổ chức phát hành trong việc "quản lý, sử dụng vốn từ phát hành trái phiếu theo đúng phương án phát hành đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt và theo quy định của pháp luật".
Vấn đề lớn nhất và mang tính hệ thống của cả 5 ngân hàng được thanh tra (ACB, MB, VPB, VIB, OCB) là việc "không thực hiện trách nhiệm quản lý vốn". KLTT chỉ rõ: "05/05 TCTD báo cáo không thể phân định chính xác số liệu về việc sử dụng số tiền thu được từ trái phiếu doanh nghiệp... do toàn bộ tiền thu được từ phát hành trái phiếu doanh nghiệp không theo dõi riêng mà hòa chung vào nguồn vốn kinh doanh chung".
Như trường hợp Novaland, TTCP đã chuyển vụ việc của Novaland sang cơ quan điều tra Bộ Công an để xem xét, xử lý. Lý do là có dấu hiệu "tạo vốn ảo" và các dòng tiền phức tạp. Cụ thể, Novaland bị cho là đã sử dụng 1.500 tỷ đồng tiền trái phiếu để thực hiện các giao dịch chuyển nhượng vốn góp "không tồn tại trong thực tế" và "chuyển lòng vòng qua nhiều công ty trung gian" trước khi quay về công ty con của tập đoàn.
Thanh tra Chính phủ yêu cầu các công ty chấm dứt các hành vi vi phạm về phát hành trái phiếu doanh nghiệp và sử dụng nguồn vốn từ trái phiếu đã được phát hiện qua thanh tra, đồng thời khẩn trương rà soát, khắc phục các tồn tại, khuyết điểm và hậu quả nếu có.
Đặc biệt, việc mua chéo trái phiếu của nhau đang dẫn đến nhiều nghi ngại giữa các ngân hàng, lo lắng về thực trạng của các doanh nghiệp.
Việc mua chéo trái phiếu của nhau (thường xảy ra giữa các doanh nghiệp trong cùng một "hệ sinh thái" hoặc giữa doanh nghiệp và tổ chức tài chính có liên quan thông qua sở hữu chéo) tiềm ẩn nhiều hệ lụy nghiêm trọng, đặc biệt là đối với tính minh bạch, sự ổn định của thị trường và quyền lợi của nhà đầu tư.
Hệ lụy của việc mua chéo trái phiếu là doanh nghiệp có thể phát hành trái phiếu với mục đích chính là để trả nợ cũ (đảo nợ), hoặc để các công ty liên quan mua vào nhằm tạo ra nguồn tiền giả tạo, làm đẹp báo cáo tài chính.
Điều này che giấu khả năng trả nợ thực sự của tổ chức phát hành và làm lu mờ mục đích sử dụng vốn thực tế.
Thêm nữa, nó còn tăng rủi ro hệ thống và rủi ro vỡ nợ chéo. Khi các doanh nghiệp trong cùng một nhóm liên kết mua trái phiếu lẫn nhau, rủi ro sẽ bị khuếch đại. Nếu một doanh nghiệp trong nhóm gặp khó khăn tài chính và vỡ nợ, nó có thể kéo theo sự sụp đổ của các doanh nghiệp còn lại do họ nắm giữ trái phiếu của nhau; tạo ra nguy cơ "vỡ nợ chéo" lan rộng, gây bất ổn cho toàn bộ hệ thống tài chính.
Việc mua bán chéo còn có thể được sử dụng để lách các quy định về giới hạn cấp tín dụng hoặc tỷ lệ an toàn vốn, đặc biệt là khi có sự tham gia của các tổ chức tín dụng (ngân hàng) liên quan đến nhóm cổ đông lớn. Ngân hàng có thể trở thành "sân sau" để huy động vốn cho các doanh nghiệp thuộc hệ sinh thái của mình.
Nguy cơ từ việc thiếu minh bạch sẽ gây thiệt hại cho nhà đầu tư. Các giao dịch mua chéo thường thiếu tính công khai, minh bạch về dòng tiền và tài sản đảm bảo (nếu có). Nhà đầu tư cá nhân có thể bị thu hút bởi lãi suất cao nhưng không nhận thức được đầy đủ rủi ro của việc sở hữu chéo, dẫn đến thiệt hại lớn khi doanh nghiệp mất khả năng thanh toán.
Việc phát hành trái phiếu "khống", không có tài sản đảm bảo hoặc sử dụng vốn sai mục đích (như trong một số đại án đã xảy ra) là hệ quả của việc lợi dụng sở hữu chéo.
Để chấn chỉnh tình trạng mua chéo trái phiếu, theo các chuyên gia, các cơ quan quản lý cần tập trung vào việc tăng cường minh bạch, siết chặt quy định về phát hành và sở hữu, và giám sát chặt chẽ các giao dịch liên quan.
Theo đó, hạn chế mục đích phát hành trái phiếu doanh nghiệp riêng lẻ, đặc biệt là không được phát hành để góp vốn, mua cổ phần doanh nghiệp khác.
Tăng cường giám sát mục đích sử dụng vốn. Yêu cầu doanh nghiệp phải công bố rõ ràng, chi tiết và sử dụng vốn đúng mục đích đã công bố trong hồ sơ phát hành.
Giới hạn đối tượng được mua trái phiếu doanh nghiệp phát hành riêng lẻ là nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp, và có các biện pháp xác nhận tính chuyên nghiệp chặt chẽ hơn để bảo vệ nhà đầu tư cá nhân.
Tăng cường minh bạch và công bố thông tin theo hướng buộc các tổ chức phát hành phải công khai chi tiết về các giao dịch mua/bán trái phiếu giữa các bên liên quan, đặc biệt là trong các giao dịch chéo.
Thúc đẩy và yêu cầu bắt buộc xếp hạng tín nhiệm đối với trái phiếu phát hành (ít nhất là với một số loại hình), giúp nhà đầu tư có cơ sở đánh giá rủi ro khách quan hơn.
Ngân hàng Nhà nước tiếp tục siết chặt các quy định về giới hạn sở hữu cổ phần, giới hạn cấp tín dụng để ngăn chặn việc các nhóm cổ đông lớn thao túng ngân hàng, biến ngân hàng thành công cụ cấp vốn (bao gồm cả việc mua trái phiếu) cho "sân sau".
Cơ quan quản lý tăng cường thanh tra, kiểm tra hoạt động mua trái phiếu doanh nghiệp của các tổ chức tín dụng để phát hiện sớm các hành vi lách luật, đảo nợ…
Tất cả những vấn đề kể trên không phải là mới, nhưng chưa cũ. Bỡi lẽ, đã có không ít câu chuyện nhà đầu tư ngậm đắng khi bỏ qua những cảnh báo rủi ro về trái phiếu doanh nghiệp, đặc biệt là trái phiếu phát hành riêng lẻ, vì chỉ dựa vào lãi suất hấp dẫn. Để rồi, khi hồ sơ doanh nghiệp sau khi thanh tra bị “chuyển sang Bộ Công an” thì họ chỉ biết ngửa mặt than trời mà thôi!.

Thị trường tài chính vừa trải qua một phiên rúng động sau khi Thanh tra Chính phủ công bố kết luận thanh tra về việc phát hành và sử dụng vốn từ trái phiếu doanh nghiệp. 

