Bước tiến vượt bậc về lượng và chất
Ngành thép không chỉ là trụ cột của ngành công nghiệp nặng mà còn giữ vai trò then chốt trong sự phát triển kinh tế và hạ tầng tại Việt Nam. Là mắt xích quan trọng trong chuỗi cung ứng vật liệu xây dựng, thép góp phần kiến tạo những công trình bền vững, thúc đẩy hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.
Hiệp hội Thép Việt Nam (VSA) cho biết, trong 10 năm gần đây, công nghiệp thép Việt Nam đã có bước tiến vượt bậc, khẳng định vị thế của mình trên bản đồ thép khu vực và thế giới. Với sản lượng thép thô đạt trên 20 triệu tấn/năm, Việt Nam là quốc gia sản xuất thép dẫn đầu khu vực Đông Nam Á và đứng thứ 11 thế giới (theo thống kê Hiệp hội thép Thế giới - World Steel in Figures 2025).
Với các chính sách thu hút đầu tư cởi mở và hấp dẫn, trong thời gian qua Việt Nam đã thu hút và huy động được các nguồn vốn xã hội vào đầu tư phát triển ngành thép: Vốn FDI, vốn tư nhân, vốn nhà nước…, nhờ đó ngành thép đã xây dựng được các khu liên hợp sản xuất thép quy mô lớn với chuỗi sản xuất khép kín, dây chuyền công nghệ đồng bộ, hiện đại như Hòa Phát Dung Quất, Formosa Hà Tĩnh.
Ngoài ra, còn rất nhiều dự án thuộc nhiều chuyên ngành sản phẩm đã được đầu tư và đi vào sản xuất với những thương hiệu mạnh như Hòa Phát, POSCO Việt Nam, CSVC, Hoa Sen, Tôn Đông Á, Tôn Phương Nam, Nam Kim, Thép Miền Nam…
Các dự án đầu tư tính đến 2024 đã đưa năng lực sản xuất thép thô của toàn ngành thép Việt Nam lên trên 23 triệu tấn/năm, nâng cao khả năng tự chủ từ nguồn phôi sản xuất trong nước. Cơ cấu sản phẩm được mở rộng và hoàn thiện đa dạng hơn theo chuỗi giá trị.
Về sản lượng sản xuất, năm 2024 ngành thép Việt Nam sản xuất được 21,9 triệu tấn thép thô (tăng 14,5% so với năm 2023) và 30,8 triệu tấn thép thành phẩm (tăng 10,6% so với năm 2023).
Trong đó, thép xây dựng (thép dài): 11,7 triệu tấn; thép cuộn cán nóng (HRC): 6,8 triệu tấn; thép cuộn cán nguội (CRC): 3,7 triệu tấn; tôn mạ và sơn phủ màu: 6,1 triệu tấn; ống thép hàn các loại: 2,5 triệu tấn.
Như vậy, về chủng loại sản phẩm ngành thép sản xuất khá đa dạng, đạt các tiêu chuẩn kỹ thuật của TCVN và các tiêu chuẩn thế giới, đáp ứng các nhu cầu cho xây dựng như: Thép thanh tròn làm cốt bê tông thông thường và bê tông dự ứng lực, thép hình làm cột điện cao thế, thép tấm cán nóng, cán nguội làm kết cấu thép, nhà tiền chế, ống thép dùng cho xây dựng, tôn mạ dùng làm tấm lợp, bao che, và các ứng dụng trong các công trình xây dựng giao thông (cột đèn đường, hàng rào, hộ lan đường cao tốc…).
Năm 2024 cũng là năm có sự phục hồi của thị trường thép trong nước và sản lượng tiêu thụ thép của Việt Nam đạt 24,5 triệu tấn (tăng 11% so với năm 2023).
Bên cạnh thị trường tiêu thụ chủ yếu là trong nước, sản phẩm thép Việt Nam còn được xuất khẩu ra thế giới với số lượng và kim ngạch ngày càng tăng qua các năm. Năm 2024, tổng lượng xuất khẩu thép của Việt Nam đạt 13,1 triệu tấn (tăng trưởng 12,1% so với năm 2023). Thị trường xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam là khu vực ASEAN (26,39%), khu vực EU (22,63%), Hoa Kỳ (13,23%), Ấn Độ (6,09%) và Đài Loan (3,95%).
Điều này cho thấy sự nỗ lực của các doanh nghiệp thép trong việc cải tiến kỹ thuật, đầu tư công nghệ mới, nâng cấp hệ thống quản trị, tiết kiệm chi phí để nâng cao sức cạnh tranh. Năm 2024, thị trường xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam là khu vực ASEAN (26,39%), khu vực EU (22,63%), Hoa Kỳ (13,23%), Ấn Độ (6,09%) và Đài Loan (3,95%).
Những thách thức trong tình hình mới
Ngoài những thành tựu đã đạt được, ngành thép hiện cũng đang còn nhiều khó khăn và hạn chế như: đầu tư vào ngành thép có sự bùng nổ, tuy nhiên do thiếu các chính sách định hướng và kiểm soát nên có hiện tượng đầu tư theo phong trào, dẫn đến tình trạng dư thừa công suất ở nhiều dòng sản phẩm. Do đó, các doanh nghiệp phải điều tiết sản xuất với tỷ lệ huy động công suất bình quân ở mức < 60% và cạnh tranh gay gắt về giá bán.
Ngoài ra, sản lượng tiêu thụ của ngành thép chủ yếu phụ thuộc vào thị trường xây dựng, đặc biệt là lĩnh vực bất động sản. Bên cạnh đó, các chính sách tín dụng, chính sách quản lý đối với thị trường bất động sản còn chưa ổn định và thiếu đồng bộ, làm ảnh hưởng nhiều đến kết quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp thép.
Hiện tại, sản phẩm của ngành thép Việt Nam chủ yếu là thép carbon thông thường, các sản phẩm thép chất lượng cao phục vụ cho cơ khí chế tạo hay thép cường độ cao đáp ứng yêu cầu cho các công trình xây dựng lớn còn khá khiêm tốn. Nguyên nhân do tỷ lệ nội địa hoá của các ngành sử dụng thép (lắp ráp ô tô, cơ khí chế tạo, khai thác dầu khí...) còn hạn chế, chênh lệch quá lớn giữa quy mô đầu tư sinh lời so với nhu cầu thị trường nên chưa phù hợp để đầu tư sản xuất các mác thép này.
Hầu như thị trường trong nước chưa phát triển các trung tâm dịch vụ thép phục vụ các dự án công trình, dẫn đến tiêu hao trong sử dụng vật liệu thép còn cao. Ngoài một số dự án mới đầu tư với công nghệ tiên tiến và mức độ tự động hóa cao, hiện vẫn còn nhiều nhà máy quy mô nhỏ, công nghệ trung bình, tiêu hao nhiều năng lượng, chi phí khó cạnh tranh với thép nhập khẩu.
Đặc biệt, công nghệ sản xuất tuy đã được đầu tư mới và nâng cấp đáng kể trong thời gian qua, nhưng về căn bản vẫn phụ thuộc nhiều vào nhiên liệu hóa thạch (than cốc, dầu, khí đốt) dẫn đến phát thải CO2 là không tránh khỏi; Công tác nghiên cứu và phát triển sản phẩm (R&D) chưa chú trọng, năng lực nghiên cứu của các doanh nghiệp còn yếu, ngoài ra chưa có các liên kết hiệu quả giữa các viện nghiên cứu, trường đại học và các doanh nghiệp. Do đó, mức độ đổi mới sáng tạo trong ngành còn thấp....
Ngoài những khó khăn và hạn chế trên, ngành thép cũng đang phải đối mặt với hàng loạt những thách thức như: tình trạng dư thừa công suất; những biến động về kinh tế, chính trị thế giới đang làm gia tăng xu hướng bảo hộ với việc áp dụng các chính sách thuế quan cực đoan và dựng lên nhiều rào cản thương mại, gây khó khăn lớn và có thể làm sụt giảm lượng xuất khẩu thép;
Hiện tại Mỹ đã đánh thuế 50% với nhôm và thép nhập khẩu, EU áp dụng cơ chế hạn ngạch cộng thêm CBAM; điều này thúc đẩy Trung Quốc đẩy mạnh xuất khẩu sang các nước Đông Nam Á; phản ứng của các nước Đông Nam Á hiện nay cũng đặt ra yêu cầu xây dựng cơ chế CBAM cho từng quốc gia trong khu vực.
Các quốc gia trên thế giới ngày càng gia tăng áp dụng công cụ phòng vệ thương mại đối với thép xuất khẩu từ Việt Nam. Các vụ khởi kiện chống bán phá giá, chống trợ cấp đối với thép Việt Nam ngày càng nhiều và mở rộng ra nhiều quốc gia, trước đây chủ yếu là Mỹ, Canada, EU thì nay mở rộng ra các nước như Ấn độ, Úc, Thái Lan, Malaysia, Mexico, Hàn Quốc, Đài Loan…
Trong khi đó, áp lực cạnh tranh với thép nhập khẩu ngày càng lớn do sự gia tăng nguồn cung trong thị trường nội khối Đông Nam Á. Ngoài ra còn bị ảnh hưởng bởi thép Trung Quốc tràn vào khu vực Đông Nam Á do bị Mỹ đánh thuế chống bán phá giá ở mức cao.
Vấn đề cấp bách và đang được quan tâm hiện nay là những yêu cầu về môi trường và chống biến đổi khí hậu. Việt Nam đã cam kết mục tiêu Net Zero vào năm 2050.
Hiện các cơ sở của ngành thép nằm trong danh mục kiểm kê khí nhà kính đã thực hiện việc lập báo cáo định kỳ theo hướng dẫn. Tuy nhiên, để triển khai đầy đủ các giải pháp nhằm đáp ứng yêu cầu môi trường và lộ trình giảm phát thải khí nhà kính thực sự là thách thức rất lớn đối với ngành thép. Hy vọng, với năng lực của mình, ngành thép hoàn toàn có thể đáp ứng nhu cầu VLXD của đất nước.
Theo ông Đinh Quốc Thái - Tổng Thư ký Hiệp hội Thép Việt Nam, để ngành thép phát triển bền vững và tiến tới thỏa mãn hơn nữa yêu cầu xây dựng đất nước trong kỷ nguyên mới, Chính phủ cần xem xét phê duyệt Chiến lược phát triển sản xuất ngành thép đến 2030, tầm nhìn 2050, gắn với các cơ chế chính sách đặc thù cho ngành thép tăng trưởng xanh và bền vững.
Bên cạnh đó, cần chính sách quản lý đầu tư, kiểm soát dư thừa công suất và tái cơ cấu ngành thép, từ 2030 không đầu tư lò cao mới. Xây dựng cơ chế tài trợ công và các gói tài chính xanh hỗ trợ doanh nghiệp thép chuyển đổi xanh theo Chiến lược Quốc gia về BĐKH và cam kết của Chính phủ tại COP26. Có cơ chế khuyến khích khu vực tư nhân tham gia nghiên cứu đầu tư công nghệ giảm phát thải.
Ngoài ra, cần xây dựng, hoàn thiện hệ thống quy chuẩn, tiêu chuẩn quản lý kỹ thuật, quản lý chất lượng, hàng rào kỹ thuật nhằm ngăn ngừa các sản phẩm thép không đáp ứng tiêu chuẩn kỹ thuật an toàn và môi trường tràn vào thị trường Việt Nam; Kịp thời áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại nhằm ngăn ngừa hành vi cạnh tranh không lành mạnh, bảo vệ sản xuất trong nước...

Ngành thép Việt Nam tuy đã đạt được một số thành tựu nhất định, song đang phải đối mặt với vô vàn khó khăn thách thức, đòi hỏi các doanh nghiệp ngành thép phải luôn đổi mới để thích nghi trong thời đại mới và hội nhập quốc tế. 

