Nghiên cứu trường hợp tổ chức không gian sông Tô Lịch
Tổng quan các khung đánh giá quốc tế (WHO, UN-Habitat, OECD…) cho thấy nhiều tiếp cận hiện nay vẫn thiên về chỉ báo kỹ thuật, môi trường và kinh tế mà chưa phản ánh đầy đủ trải nghiệm người sử dụng và các yếu tố đặc thù địa phương.
Nghiên cứu áp dụng phương pháp định lượng với mô hình PLS-SEM (SmartPLS 4.0), coi đô thị hạnh phúc là biến phụ thuộc giữa tổ chức không gian và trải nghiệm sử dụng. Thang đo được cấu trúc ba tầng và tổ chức thành bốn nhóm yếu tố: (i) công bằng trong cơ hội tiếp cận và lựa chọn sử dụng, (ii) tự do và linh hoạt trong hành vi sử dụng, (iii) cảm giác an tâm khi sử dụng không gian ven nước, (iv) cảm nhận bản sắc. Kết quả đánh giá thử nghiệm tại sông Tô Lịch cho thấy tất cả các nhóm yếu tố đều tác động tích cực và có ý nghĩa thống kê đến đô thị hạnh phúc với tự do trong sử dụng, công bằng và cảm nhận bản sắc là các nhóm ảnh hưởng nổi trội. Nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học cho việc đo lường, so sánh và định hướng tổ chức không gian ven sông theo mục tiêu đô thị hạnh phúc trong bối cảnh đô thị Việt Nam.
1.1. Khái niệm đô thị hạnh phúc
Trong những thập niên gần đây, khái niệm đô thị hạnh phúc ngày càng trở thành trọng tâm trong lý luận và thực tiễn phát triển đô thị bền vững. Cách tiếp cận này phản ánh sự dịch chuyển từ mô hình phát triển đô thị lấy tăng trưởng kinh tế và mở rộng hạ tầng làm mục tiêu trung tâm sang mô hình lấy con người làm trọng tâm, nhấn mạnh chất lượng sống và trải nghiệm hàng ngày của cư dân đô thị[2, 3].
Theo các nghiên cứu đương đại, đô thị hạnh phúc là một khái niệm đa chiều, không thể quy giản vào các chỉ số thu nhập hay mức độ tiện nghi vật chất đơn thuần, mà phản ánh mức độ môi trường đô thị hỗ trợ sự phát triển toàn diện về thể chất, tinh thần và xã hội của con người[3, 4]. Các thành phần cốt lõi thường được xác định bao gồm: công bằng, cảm giác an toàn, và bản sắc cùng cảm giác thuộc về nơi chốn[5, 6].
Trong đó, gắn kết xã hội và công bằng xã hội phản ánh khả năng của đô thị trong việc tạo lập các không gian cho tương tác thường nhật, hoạt động cộng đồng và sự hình thành vốn xã hội[7]. Cảm giác an toàn đóng vai trò quyết định đối với việc người dân có sẵn sàng sử dụng không gian công cộng và tham gia đời sống đô thị hay không[7]. Bên cạnh đó, bản sắc và cảm giác thuộc về thể hiện mối liên kết cảm xúc giữa con người với không gian sống, góp phần hình thành sự gắn bó lâu dài và cảm nhận hạnh phúc đô thị[8].
Trong bối cảnh này, không gian công cộng được xem là cấu phần trung tâm của đô thị hạnh phúc bởi đây là nơi hội tụ và biểu hiện rõ nét nhất các chiều cạnh về văn hóa, xã hội, an toàn và bản sắc thông qua trải nghiệm sử dụng hàng ngày[10, 11]. Đặc biệt, không gian công cộng ven sông với sự kết hợp giữa yếu tố nước, cảnh quan tự nhiên và đời sống xã hội được xem là một trong những loại hình không gian có tiềm năng lớn trong việc nâng cao hạnh phúc đô thị [6].
1.2. Tổng quan các bộ thang đo và khung đánh giá liên quan
Trên thế giới, nhiều bộ chỉ số và khung đánh giá đã được phát triển nhằm đo lường chất lượng sống và phúc lợi đô thị, tiêu biểu như các bộ chỉ số của WHO, UN-Habitat, OECD cùng với các tiếp cận thiết kế đô thị lấy con người làm trung tâm của Jan Gehl (2006)[10]. Các khung đánh giá này thường tập trung vào các chỉ báo có thể lượng hóa như chất lượng môi trường, khả năng tiếp cận hạ tầng, giao thông, không gian xanh, sức khỏe cộng đồng và hiệu quả kinh tế[1, 2].
Mặc dù có giá trị tham chiếu quan trọng ở quy mô quốc tế, việc áp dụng trực tiếp các bộ thang đo này vào bối cảnh đô thị Việt Nam, đặc biệt là Hà Nội, vẫn bộc lộ nhiều hạn chế. Thứ nhất, phần lớn các khung đánh giá hiện hành thiên về cách tiếp cận kỹ thuật và chức năng chưa phản ánh đầy đủ các khía cạnh xã hội, cảm xúc và trải nghiệm nhân văn của người sử dụng không gian. Thứ hai, các bộ thang đo thường được xây dựng trong bối cảnh đô thị có điều kiện quản lý và không gian tương đối đồng nhất trong khi Hà Nội là đô thị có mật độ cao, cấu trúc không gian phức hợp và chịu ảnh hưởng mạnh của lịch sử và văn hóa. Thứ ba, các yếu tố đặc thù của không gian ven sông nội đô nơi vừa mang giá trị sinh thái vừa gắn bó sâu sắc với đời sống cộng đồng, chưa được xem xét đầy đủ trong các khung đánh giá hiện có.
Do đó, vẫn tồn tại một khoảng trống nghiên cứu trong việc xây dựng các công cụ và bộ thang đo đánh giá đô thị hạnh phúc phù hợp với bối cảnh Hà Nội đặc biệt thông qua lăng kính của không gian công cộng ven sông. Khoảng trống này đặt ra yêu cầu phát triển các khung đánh giá kết hợp giữa yếu tố bản sắc, trải nghiệm nhằm phản ánh đúng vai trò của không gian ven sông trong việc kiến tạo đô thị hạnh phúc tại các đô thị đang phát triển như TP Hà Nội.
1.3. Khoảng trống nghiên cứu
Tổng quan các nghiên cứu và bộ thang đo hiện có cho thấy vẫn tồn tại những khoảng trống đáng kể trong đánh giá chất lượng không gian công cộng ven sông. Phần lớn các tiếp cận hiện nay còn thiên về khía cạnh kỹ thuật và cảnh quan, tập trung vào hạ tầng và chất lượng môi trường vật lý trong khi chưa quan tâm đầy đủ đến các yếu tố xã hội, cảm nhận và hạnh phúc của người sử dụng. Bên cạnh đó, nhiều khung đánh giá được xây dựng dựa trên bối cảnh đô thị phương Tây chưa phản ánh đầy đủ các điều kiện đặc thù về không gian, văn hóa và cấu trúc xã hội của Hà Nội đặc biệt đối với các không gian ven sông nội đô có lịch sử phát triển phức hợp. Khoảng trống này đặt ra nhu cầu xây dựng một bộ thang đo đánh giá tích hợp hơn bằng việc lấy con người và trải nghiệm hạnh phúc đô thị làm trọng tâm phù hợp với bối cảnh đô thị Hà Nội.
2.1. Cách tiếp cận nghiên cứu
Nghiên cứu áp dụng phương pháp định lượng, nhằm xác định và đo lường mức độ tác động của các yếu tố văn hóa, bản sắc, trải nghiệm đến hạnh phúc đô thị thông qua trường hợp nghiên cứu điển hình tại không gian ven sông Tô Lịch. Từ đó làm cơ sở khoa học cho việc xây dựng bộ thang đo đánh giá đô thị hạnh phúc.
Khác với các nghiên cứu trước tập trung vào đặc điểm hình thái, sinh thái và hạ tầng kỹ thuật của không gian ven sông mô hình nghiên cứu này được xây dựng trên cơ sở kết hợp các lý thuyết về không gian công cộng, đô thị hạnh phúc, bản sắc đô thị. Mô hình gồm năm nhóm biến độc lập bao gồm: (i) công bằng trong cơ hội tiếp cận và lựa chọn sử dụng; (ii) mức độ tự do và linh hoạt trong hành vi sử dụng; (iii) cảm giác an tâm khi sử dụng không gian ven nước; (iv) cảm nhận, bản sắc và trải nghiệm không gian; và (v) khả năng hiện diện của các nhóm xã hội có tác động trực tiếp đến hạnh phúc đô thị. Cách tiếp cận này phù hợp với quan điểm cho rằng chất lượng không gian đô thị không chỉ được quyết định bởi các điều kiện vật lý mà còn được hình thành thông qua trải nghiệm, cảm nhận và hành vi của con người[4, 8]
Việc lựa chọn mô hình cấu trúc tuyến tính (PLS-SEM) cho phép kiểm định đồng thời các mối quan hệ trực tiếp và gián tiếp giữa các nhóm yếu tố trong trường hợp nghiên cứu điển hình không gian ven sông Tô Lịch cho thấy mức độ hợp phù hợp với các nghiên cứu về hạnh phúc đô thị và không gian công cộng vốn mang tính đa chiều và liên ngành[12].
Thông qua mô hình nghiên cứu, đề tài góp phần bổ sung bằng chứng thực nghiệm cho lập luận rằng đô thị hạnh phúc không thể đạt được chỉ bằng cải thiện điều kiện môi trường hoặc gia tăng giá trị kinh tế mà cần được kiến tạo thông qua không gian công cộng có tính bao trùm, giàu trải nghiệm xã hội và bản sắc đặc biệt trong bối cảnh các sông nội đô như sông Tô Lịch đang chịu áp lực đô thị hóa mạnh mẽ.
Tiếp cận theo cấu trúc ba tầng, bảo đảm tính hệ thống và khả năng lượng hóa:
Tiếp cận theo cấu trúc ba tầng, bảo đảm tính hệ thống và khả năng lượng hóa. Nghiên cứu này xem đô thị hạnh phúc không chỉ là trạng thái kết quả mà là một quá trình được hình thành thông qua trải nghiệm không gian công cộng đặc biệt là không gian ven sông nội đô. Cách tiếp cận ba tầng cho phép chuyển hóa các khái niệm trừu tượng của hạnh phúc đô thị như cảm xúc tích cực, cảm giác an toàn, gắn kết xã hội và sự thuộc về thành một hệ thống đánh giá có thể đo lường và so sánh.
Tầng thứ nhất (nhóm) phản ánh các khía cạnh cốt lõi cấu thành đô thị hạnh phúc trong không gian ven sông bao gồm các văn hóa, bản sắc, trải nghiệm, tương tác và đa dạng các nhóm xã hội.
Tầng thứ hai (thành phần) cụ thể hóa cách thức mà mỗi khía cạnh này được thể hiện trong tổ chức và sử dụng không gian công cộng.
Tầng thứ ba (chỉ báo đo lường) cho phép lượng hóa trực tiếp cảm nhận về văn hóa và bản sắc của người sử dụng thông qua thang đo định lượng qua đó liên kết trải nghiệm cá nhân với đánh giá tổng thể về một đô thị hạnh phúc.
Cấu trúc ba tầng này giúp đảm bảo tính logic nội tại của bộ thang đo đồng thời làm rõ mối quan hệ giữa yếu tố văn hóa và bản sắc đến đô thị hạnh phúc. Qua đó tạo nền tảng khoa học cho việc đánh giá, so sánh và định hướng tổ chức không gian ven sông theo mục tiêu nâng cao chất lượng sống và hạnh phúc của cư dân đô thị hướng tới một đô thị hạnh phúc.
2.2. Các nhóm tiếp cận
Nghiên cứu xác định năm nhóm thang đo phản ánh các cơ chế mà thông qua đó không gian công cộng ven sông có thể đóng góp vào hạnh phúc đô thị.
(1) Công bằng trong cơ hội tiếp cận và lựa chọn sử dụng
Nhóm tiếp cận này phản ánh mức độ mà không gian công cộng ven sông bảo đảm quyền tiếp cận và quyền lựa chọn sử dụng một cách công bằng cho mọi nhóm xã hội. Trong bối cảnh đô thị hạnh phúc, công bằng không chỉ được hiểu là khả năng tiếp cận vật lý mà còn bao hàm việc không gian không bị chi phối bởi rào cản kinh tế, cơ chế quản lý mang tính loại trừ hay sự ưu tiên ngầm cho một nhóm sử dụng nhất định.
(2) Tự do và linh hoạt trong hành vi sử dụng
Nhóm tiếp cận này tập trung vào khả năng mà không gian ven sông cho phép người sử dụng được tự do lựa chọn, đa dạng hóa hành vi sử dụng theo nhu cầu cá nhân và bối cảnh sử dụng khác nhau. Trong đô thị hạnh phúc, sự tự do trong hành vi giúp con người cảm nhận được quyền làm chủ không gian sống thay vì bị áp đặt bởi các kịch bản sử dụng cứng nhắc.
(3) Cảm giác an tâm khi sử dụng không gian
Nhóm tiếp cận này nhấn mạnh cảm giác như một thành tố thiết yếu của hạnh phúc đô thị và vượt ra ngoài khái niệm an toàn kỹ thuật thuần túy. Cảm giác an tâm khi tiếp cận và sử dụng không gian ven sông quyết định việc các nhóm dễ bị tổn thương như trẻ em, người cao tuổi và phụ nữ có sẵn sàng tham gia vào không gian hay không.
(4) Cảm nhận, bản sắc và trải nghiệm không gian
Nhóm này phản ánh khả năng không gian ven sông tạo ra các trải nghiệm cảm xúc tích cực, khơi gợi bản sắc địa điểm và nuôi dưỡng cảm giác gắn bó và thuộc về.
3.1. Nhóm thang đo đánh giá (Bảng 1)
3.2. Phân tích kết quả mô hình PLS-SEM
Kết quả phân tích mô hình PLS-SEM cho thấy mô hình nghiên cứu đạt mức độ phù hợp và tin cậy cao qua đó khẳng định tính hợp lý của khung lý thuyết được đề xuất trong việc giải thích cơ chế hình thành đô thị hạnh phúc thông qua trường hợp nghiên cứu không gian công cộng ven sông. Việc sử dụng PLS-SEM cho phép đánh giá đồng thời chất lượng thang đo và các mối quan hệ nhân quả giữa các khái niệm tiềm ẩn phù hợp với bản chất đa chiều và mang tính cảm nhận của đô thị hạnh phúc.
3.2.1. Đánh giá mô hình đo lường (Bảng 2)
Kết quả đánh giá độ tin cậy và giá trị hội tụ của các thang đo được trình bày trong Bảng 1 cho thấy tất cả các khái niệm nghiên cứu đều đáp ứng các ngưỡng khuyến nghị trong mô hình PLS-SEM. Cụ thể, hệ số Cronbach’s alpha của các thang đo dao động từ 0.872 đến 0.911, vượt ngưỡng 0.70, phản ánh độ tin cậy nội tại tốt và sự nhất quán cao giữa các biến quan sát trong từng khái niệm.
Bên cạnh đó, các chỉ số độ tin cậy tổng hợp (rho_A và rho_C) đều đạt giá trị lớn hơn 0.80, cho thấy mức độ ổn định và độ tin cậy tổng hợp cao của mô hình đo lường. Giá trị phương sai trích xuất trung bình (AVE) của tất cả các khái niệm đều lớn hơn 0.50, chứng tỏ các biến quan sát giải thích tốt cho các khái niệm tiềm ẩn mà chúng đại diện. Kết quả này khẳng định mô hình đo lường đạt yêu cầu về độ tin cậy và giá trị hội tụ, tạo cơ sở vững chắc cho việc tiếp tục đánh giá mô hình cấu trúc.
3.2.2. Đánh giá giá trị phân biệt (Bảng 3)
Giá trị phân biệt giữa các khái niệm nghiên cứu được kiểm định thông qua tiêu chí Fornell-Larcker kết quả trình bày trong Bảng 3. Theo đó, căn bậc hai của AVE (giá trị trên đường chéo) của mỗi khái niệm đều lớn hơn hệ số tương quan giữa khái niệm đó với các khái niệm còn lại.
Điều này cho thấy các khái niệm như công bằng trong tiếp cận, cảm giác an tâm, cảm nhận bản sắc, tự do trong hành vi sử dụng và đô thị hạnh phúc tuy có mối liên hệ chặt chẽ về mặt lý thuyết nhưng vẫn được phân biệt rõ ràng về mặt đo lường, không xảy ra hiện tượng chồng lấn hay trùng lặp khái niệm. Kết quả này khẳng định tính phân biệt của mô hình nghiên cứu.
3.2.3. Kết quả mô hình cấu trúc (Bảng 4)
Kết quả kiểm định mô hình cấu trúc được trình bày trong Bảng 4 cho thấy cả bốn yếu tố độc lập đều có tác động tích cực và có ý nghĩa thống kê đến hạnh phúc không gian ven sông (p < 0.001). Trong đó, tự do và linh hoạt trong hành vi sử dụng thể hiện mức độ tác động mạnh nhất (β = 0.346), tiếp theo là công bằng trong cơ hội tiếp cận (β = 0.315), cảm nhận bản sắc và trải nghiệm không gian (β = 0.303) và cảm giác an tâm khi sử dụng không gian ven nước (β = 0.250).
Thứ tự mức độ ảnh hưởng này cho thấy hạnh phúc không gian ven sông được quyết định chủ yếu bởi các yếu tố liên quan trực tiếp đến trải nghiệm xã hội và cảm nhận chủ quan của người sử dụng, hơn là các điều kiện vật chất đơn thuần. Đặc biệt, các yếu tố phản ánh quyền tự do, cảm giác làm chủ và sự thuộc về không gian giữ vai trò then chốt trong việc hình thành hạnh phúc đô thị.
3.2.4. Mức độ ảnh hưởng của các yếu tố (Bảng 5)
Phân tích kích thước ảnh hưởng f² (Bảng 5) cho thấy tự do trong hành vi sử dụng có mức độ ảnh hưởng mạnh nhất đến hạnh phúc không gian ven sông (f² = 0.345), tiếp theo là công bằng trong tiếp cận (f² = 0.309) và cảm nhận bản sắc (f² = 0.278). Yếu tố cảm giác an tâm có mức độ ảnh hưởng trung bình (f² = 0.187).
Kết quả này củng cố luận điểm rằng không gian ven sông chỉ thực sự đóng góp vào hạnh phúc đô thị khi được tổ chức như một không gian xã hội linh hoạt, công bằng và giàu bản sắc, thay vì chỉ tập trung vào các giải pháp kỹ thuật hay cải thiện điều kiện môi trường đơn lẻ.
3.2.5. Khả năng giải thích và dự báo của mô hình (Bảng 6)
Theo Bảng 6, mô hình nghiên cứu đạt khả năng giải thích cao, với giá trị R² của biến đô thị hạnh phúc đạt 0.734 và R² điều chỉnh đạt 0.731. Điều này cho thấy bốn yếu tố nghiên cứu giải thích được khoảng 73% sự biến thiên của hạnh phúc đô thị với không gian ven sông phản ánh mức độ phù hợp cao của mô hình. Kết quả này khẳng định mô hình không chỉ có giá trị về mặt giải thích mà còn cung cấp cơ sở khoa học tin cậy cho việc xây dựng bộ thang đo đánh giá và dự báo đô thị hạnh phúc thông qua trường hợp nghiên cứu điển hình không gian công cộng ven sông Tô Lịch, Hà Nội.
Kết quả phân tích cho thấy hạnh phúc đô thị với không gian ven sông không phải là hệ quả trực tiếp của cải thiện điều kiện môi trường hay gia tăng giá trị kinh tế mà được hình thành chủ yếu thông qua chất lượng tương tác xã hội, cảm nhận bản sắc và mức độ tự do trong sử dụng không gian. Phát hiện này phù hợp với các lý thuyết và nghiên cứu quốc tế về đô thị hạnh phúc đồng thời cung cấp bằng chứng thực nghiệm quan trọng cho bối cảnh đô thị Việt Nam.
Trên cơ sở đó, việc xây dựng bộ thang đo đánh giá hạnh phúc đô thị thông qua không gian ven sông cần lấy các yếu tố xã hội, cảm nhận, trải nghiệm làm trục trung tâm. Ngược lại, các yếu tố môi trường và kinh tế được xem là điều kiện nền hỗ trợ nhằm hướng tới một mô hình đô thị hạnh phúc được chứng minh bởi trường hợp điển hình là phát triển không gian ven sông lấy bản sắc, văn hóa, con người làm trọng tâm.
Việc lựa chọn mô hình phân tích PLS-SEM trong nghiên cứu này không chỉ xuất phát từ yêu cầu kỹ thuật của một nghiên cứu định lượng đa biến mà còn phản ánh bản chất phức hợp, mang tính cảm nhận và xã hội của khái niệm đô thị hạnh phúc. Khác với các mô hình hồi quy tuyến tính truyền thống vốn giả định mối quan hệ trực tiếp, đơn tuyến giữa các biến. Đô thị hạnh phúc trong nghiên cứu này được hiểu như một kết quả tổng hợp, hình thành thông qua sự tương tác đồng thời của nhiều yếu tố xã hội, tâm lý và không gian.
Mô hình PLS-SEM đặc biệt phù hợp với bối cảnh nghiên cứu này bởi khả năng xử lý các khái niệm tiềm ẩn như công bằng, tự do, cảm giác an tâm, cảm nhận bản sắc và hạnh phúc đô thị là những khái niệm không thể đo lường trực tiếp mà chỉ có thể tiếp cận thông qua cảm nhận chủ quan của người sử dụng. Cách tiếp cận này phù hợp với các nghiên cứu về đô thị hạnh phúc vốn nhấn mạnh trải nghiệm sống và cảm xúc cá nhân hơn là các chỉ số kỹ thuật thuần túy.
Bên cạnh đó, mô hình PLS-SEM cho phép đánh giá đồng thời mô hình đo lường và mô hình cấu trúc giúp kiểm định không chỉ độ tin cậy của các thang đo mà còn cơ chế hình thành hạnh phúc đô thị thông qua các yếu tố trung gian. Trong nghiên cứu này, đô thị hạnh phúc không được xem là hệ quả trực tiếp của một yếu tố đơn lẻ mà là kết quả của một chuỗi tác động bắt đầu từ tổ chức không gian dẫn đến trải nghiệm bao trùm và cuối cùng được chuyển hóa thành cảm nhận hạnh phúc.
Hơn thế nữa, nghiên cứu lựa chọn mô hình PLS-SEM do định hướng dự báo phù hợp với mục tiêu xây dựng công cụ hỗ trợ ra quyết định trong tổ chức không gian ven sông hướng tới đô thị hạnh phúc. Giá trị R² cao cho thấy mô hình có khả năng giải thích mạnh vì vậy các mối quan hệ được thiết lập không dừng ở ý nghĩa thống kê mà còn có giá trị thực tiễn trong dự báo tác động của các phương án tổ chức không gian đến trải nghiệm hạnh phúc của người dân. Kết quả cũng chỉ ra các yếu tố tự do trong sử dụng, công bằng và cảm nhận bản sắc có ảnh hưởng nổi trội so với các điều kiện vật chất và kỹ thuật.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] OECD, OECD Factbook 2013: Economic, Environmental and Social Statistics. OECD Publishing, Paris(in English), 2013.
[2] UN-Habitat, "World Cities Report. The Value of Sustainable Urbanization. United Nations Human Settlements Programme," 2020. [Online]. Available: https://unhabitat.org/sites/default/files/2020/10/wcr_2020_report.pdf.
[3] Charles H. Montgomery, "Happy City: Transforming Our Lives Through Urban Design," 2013.
[4] Joar Vittersø, "Happiness and Wellbeing," in Humanistic Wellbeing: Toward a Value-Based Science of the Good Life, Joar Vittersø Ed. Cham: Springer Nature Switzerland, 2025, pp. 49-77.
[5] Kostas Mouratidis, "Built environment and social well-being: How does urban form affect social life and personal relationships?," (in English), Cities, vol. 74, pp. 7-20, 2018/04/01/ 2018, doi: https://doi.org/10.1016/j.cities.2017.10.020.
[6] Mathew P. White, Lewis R. Elliott, Mireia Gascon, Bethany Roberts, and Lora E. Fleming, "Blue space, health and well-being: A narrative overview and synthesis of potential benefits," (in English), Environmental Research, vol. 191, p. 110169, 2020/12/01/ 2020, doi: https://doi.org/10.1016/j.envres.2020.110169.
[7] J. Gehl and R. Rogers, Cities for People. Island Press (in English), 2013.
[8] Matthew Carmona, "Principles for public space design, planning to do better," (in English), URBAN DESIGN International, vol. 24, pp. 47-59, 2018.
[9] E.C. Relph, Place and Placelessness. Pion (in English), 1976.
[10] J. Gehl and J. Koch, Life Between Buildings: Using Public Space. Danish Architectural Press (in English), 2006.
[11] S.M. Low, D. Taplin, and S. Scheld, Rethinking Urban Parks: Public Space and Cultural Diversity. University of Texas Press (in English), 2009.
[12] John W Creswell and Vicki L Plano Clark, Designing and conducting mixed methods research. Sage publications (in English), 2017.










