DOI: http://doi.org/10.64588/jc.01.07.2026
TÁC GIẢ:
TS Lê Văn Thức1,*, TS Nguyễn Sơn2, TS Trần Quang Minh3
1Cảng vụ Hàng hải TP Hồ Chí Minh
2Khoa Kinh tế, Đại học RMIT Việt Nam
3Khoa Khoa học, Kỹ thuật & Công nghệ, Đại học RMIT Việt Nam
*Email: levanthuc.vinamarine@gmail.com
THÔNG TIN BÀI BÁO
Chuyên mục: Khoa học công nghệ
Ngày nhận bài: 17/6/2026
Ngày sửa bài: 23/6/2026
Ngày chấp nhận đăng: 02/7/2026
Ngày xuất bản Online: 05/7/2026
Tác giả liên hệ: Email: levanthuc.vinamarine@gmail.com
TÓM TẮT
Hệ thống cộng đồng cảng (Port Community System) đã được phát triển tại các cảng biển lớn trên thế giới, điển hình như Rotterdam, Hamburg, Los Angeles và Singapore. Mặc dù mô hình quản trị không giống nhau nhưng các hệ thống này đều là nền tảng kết nối các chủ thể trong hệ sinh thái cảng và chia sẻ dữ liệu giữa các bên, dự báo thời gian tàu/ hàng đến để điều phối tàu đến cảng đúng thời điểm, qua đó tối ưu hóa quy trình khai thác. Cảng biển TP Hồ Chí Minh là cảng cửa ngõ lớn nhất Việt Nam, để phát triển thành cảng trung chuyển quốc tế đòi hỏi Cảng vụ hàng hải và cộng đồng cảng phải thay đổi phương thức quản lý truyền thống chủ yếu qua phương pháp thủ công, thông tin rời rạc, thiếu công cụ hỗ trợ ra quyết định… bằng giải pháp đẩy nhanh chuyển đổi số, thiết lập hệ thống quản trị dựa trên dữ liệu theo thời gian thực và điều phối, tối ưu nguồn lực dùng chung cấp cụm cảng, giảm thời gian tàu chờ, nâng cao hiệu quả khai thác.
Từ khóa: Hệ thống cộng đồng cảng; chuyển đổi số; chính quyền cảng; học máy; “Just-in-Time Port Call”.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] A. Moros-Daza, R. Amaya-Mier and C. Paternina-Arboleda. Port community systems: A structured literature review. Transportation Research Part A: Policy and Practice, vol. 133, pp. 27-46, 2020, doi: 10.1016/j.tra.2019.12.021.
[2] S. E. Mthembu and M. G. Chasomeris. A systems approach to developing a port community system for South Africa. Journal of Shipping and Trade, vol. 7, 2022, doi: 10.1186/s41072-022-00128-3.
[3] E. Tijan, M. Jović, A. Panjako and D. Žgaljić. The role of port authority in port governance and port community system implementation. Sustainability, vol. 13, no. 5, art. 2795, 2021, doi: 10.3390/su13052795.
[4] D. R. Chandra and J. van Hillegersberg. Governance of inter-organizational systems: a longitudinal case study of Rotterdam’s Port Community System. International Journal of Information Systems and Project Management, vol. 6, no. 2, pp. 47-68, 2018.
[5] V. Carlan, C. Sys and T. Vanelslander. How port community systems can contribute to port competitiveness: Developing a cost-benefit framework. Research in Transportation Business & Management, vol. 19, pp. 51-64, 2016.
[6] S. Jiang, L. Liu, P. Peng, M. Xu and R. Yan. Prediction of vessel arrival time to port: a review of current studies. Maritime Policy & Management, pp. 1-26, 2025, doi: 10.1080/03088839.2025.2488376.
[7] Z. Chu, R. Yan, and S. Wang. Vessel arrival time to port prediction via a stacked ensemble approach: Fusing port call records and AIS data. Transportation Research Part C: Emerging Technologies, vol. 176, art. 105128, 2025, doi: 10.1016/j.trc.2025.105128.
[8] S. Nguyen, X. Fu, L. Zhao, H. Xu, X. Zhang, N. Li, W. Zhang, X. F. Yin, D. Ogawa, J. Koh and Q. Zheng. AI-driven just-in-time coordination between port and ships: Advancing maritime decarbonization. Transportation Research Part E: Logistics and Transportation Review, vol. 207, art. 104569, 2026, doi: 10.1016/j.tre.2025.104569.
[9] Bộ Chính trị. Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, 2024.
[10] Quốc hội. Luật Dữ liệu, số 60/2024/QH15, 2024.
[11] Chính phủ. Nghị quyết số 03/NQ-CP ngày 09/01/2025 ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW, 2025.
[12] Chính phủ. Nghị định số 58/2017/NĐ-CP ngày 10/5/2017 quy định chi tiết một số điều của Bộ luật Hàng hải Việt Nam về quản lý hoạt động hàng hải (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 34/2025/NĐ-CP), 2017.
[13] Bộ Xây dựng. Thông tư số 20/2026/TT-BXD ngày 15/5/2026 (hiệu lực từ ngày 01/7/2026), 2026.
[14] International Maritime Organization (IMO). Convention on Facilitation of International Maritime Traffic (FAL), 1965, as amended; and FAL.5/Circ.52.
[15] ISO 28005. Security management systems for the supply chain - Electronic port clearance (EPC).
►Xem bài báo tại đây

Cảng biển TP Hồ Chí Minh là cảng cửa ngõ lớn nhất Việt Nam, để phát triển thành cảng trung chuyển quốc tế đòi hỏi Cảng vụ hàng hải và cộng đồng cảng phải thay đổi phương thức quản lý truyền thống chủ yếu qua phương pháp thủ công, thông tin rời rạc, thiếu công cụ hỗ trợ ra quyết định… bằng giải pháp đẩy nhanh chuyển đổi số, thiết lập hệ thống quản trị dựa trên dữ liệu theo thời gian thực... 

