1. Đặt vấn đề
Tuyên Quang là tỉnh miền núi thuộc vùng Trung du và miền núi phía Bắc, nơi người Tày là dân tộc thiểu số có dân số đông và cư trú lâu đời [2], [18]. Trong quá trình sinh sống, cộng đồng người Tày đã hình thành loại hình nhà ở truyền thống mang những đặc trưng riêng về tổ chức không gian, kết cấu, vật liệu xây dựng và khả năng thích ứng với điều kiện tự nhiên địa phương [9], [11].
Kiến trúc nhà ở truyền thống của người Tày chủ yếu là nhà sàn gỗ, phân bố tại các khu vực chân núi, ven suối và thung lũng canh tác. Loại hình nhà ở này phản ánh kinh nghiệm ứng xử với khí hậu, địa hình miền núi và đời sống sản xuất nông nghiệp truyền thống, đồng thời là không gian lưu giữ các giá trị văn hóa, tín ngưỡng và sinh hoạt cộng đồng [1], [11], [19].
Tuy nhiên, dưới tác động của quá trình đô thị hóa và phát triển kinh tế - xã hội, nhiều ngôi nhà sàn truyền thống đã bị cải tạo hoặc thay thế bằng các công trình hiện đại, làm suy giảm những giá trị kiến trúc và bản sắc văn hóa vốn có [9], [16], [19].
Trên cơ sở khảo sát và phân tích đặc điểm kiến trúc nhà ở truyền thống dân tộc Tày tại tỉnh Tuyên Quang, bài báo tập trung nhận diện các giá trị tiêu biểu về thích ứng tự nhiên, tổ chức không gian, kỹ thuật xây dựng, văn hóa và thẩm mỹ kiến trúc, qua đó góp phần bổ sung cơ sở khoa học cho công tác bảo tồn và phát huy giá trị kiến trúc truyền thống trong bối cảnh hiện nay.
2. Cơ sở nhận diện giá trị kiến trúc nhà ở truyền thống dân tộc Tày tỉnh Tuyên Quang
2.1. Điều kiện hình thành kiến trúc nhà ở truyền thống
Kiến trúc nhà ở truyền thống của người Tày tại tỉnh Tuyên Quang được hình thành dưới tác động của điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và văn hóa truyền thống. Địa hình đồi núi thấp xen thung lũng, hệ thống sông suối phong phú cùng khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm đã ảnh hưởng trực tiếp đến việc lựa chọn nơi cư trú và hình thức kiến trúc nhà ở [2], [19].
Nhà sàn là loại hình cư trú phổ biến của người Tày do phù hợp với địa hình miền núi, có khả năng chống ẩm, chống ngập và tạo sự thông thoáng. Vật liệu xây dựng chủ yếu là gỗ, tre, nứa và lá cọ, phản ánh sự tận dụng nguồn tài nguyên địa phương [9], [11].
Gắn với kinh tế nông nghiệp truyền thống, nhà ở thường kết hợp chức năng cư trú và sản xuất. Đồng thời, các quan niệm dân gian về chọn đất, hướng nhà, nghi lễ dựng nhà và thờ cúng tổ tiên cũng góp phần hình thành những đặc trưng riêng của kiến trúc nhà ở truyền thống người Tày [11], [12], [19].
2.2. Đặc trưng tổ chức không gian kiến trúc
Nhà ở truyền thống của người Tày thường được tổ chức trong khuôn viên gắn bó chặt chẽ với cảnh quan tự nhiên và hoạt động sản xuất nông nghiệp. Nhà chính thường bố trí trên nền đất cao ráo hoặc sườn đồi thoải, quay về hướng Nam hoặc Đông Nam. Bao quanh nhà là sân, vườn, ao, chuồng trại và đất canh tác, tạo thành mô hình cư trú gắn kết giữa nơi ở và nơi sản xuất [9], [19], [12].
Về mặt bằng, nhà sàn truyền thống được tổ chức theo không gian mở với các khu vực sinh hoạt chung, tiếp khách, nghỉ ngơi, thờ cúng và bảo quản nông sản. Gian giữa và bếp lửa giữ vai trò trung tâm, là nơi diễn ra các hoạt động sinh hoạt gia đình và nghi lễ truyền thống. Không gian thờ cúng tổ tiên được bố trí ở vị trí trang trọng nhất trong ngôi nhà [1], [11].
Theo chiều đứng, công trình gồm ba bộ phận chính: gầm sàn, tầng ở và mái nhà. Gầm sàn được sử dụng để chăn nuôi, bảo quản nông cụ; tầng sàn là không gian sinh hoạt chính; mái dốc lớn giúp thoát nước mưa nhanh và điều hòa vi khí hậu. Đây là giải pháp không gian phù hợp với điều kiện tự nhiên vùng núi và tập quán sinh hoạt của người Tày [9], [11].
2.3. Đặc điểm hình thức kiến trúc
Nhà ở truyền thống của người Tày chủ yếu sử dụng hệ kết cấu khung gỗ với các bộ phận cột, xà, kèo được liên kết bằng kỹ thuật mộng và chốt gỗ. Phương thức liên kết này phản ánh trình độ kỹ thuật xây dựng dân gian và kinh nghiệm sử dụng vật liệu của cộng đồng địa phương [1], [11].
Vật liệu xây dựng truyền thống gồm gỗ, tre, nứa, lá cọ và ngói đất nung. Trong đó, mái nhà là yếu tố tạo nên dấu ấn đặc trưng của kiến trúc người Tày tại Tuyên Quang. Mái thường có độ dốc lớn, lợp bằng lá cọ hoặc ngói âm dương, phù hợp với điều kiện khí hậu mưa nhiều của khu vực [11], [19].
Hình thức kiến trúc nhìn chung đơn giản, hài hòa với cảnh quan tự nhiên. Tuy nhiên, dưới tác động của quá trình hiện đại hóa, nhiều công trình đã sử dụng vật liệu công nghiệp như bê tông, thép và tôn lợp, làm thay đổi đáng kể hình thức kiến trúc truyền thống [9], [19].
3. Nhận diện giá trị kiến trúc nhà ở truyền thống dân tộc Tày Tỉnh tuyên Quang
3.1. Giá trị thích ứng với điều kiện tự nhiên
Giá trị nổi bật của kiến trúc nhà ở truyền thống dân tộc Tày là khả năng thích ứng hiệu quả với điều kiện tự nhiên vùng trung du và miền núi phía Bắc. Loại hình nhà sàn truyền thống là biểu hiện rõ nét của quá trình thích ứng này, đặc biệt tại các khu vực cư trú lâu đời của người Tày ở Na Hang, Lâm Bình và Chiêm Hóa [12], [19].
Việc nâng sàn lên khỏi mặt đất giúp hạn chế độ ẩm, tránh côn trùng và tạo không gian thông thoáng bên dưới công trình. Hệ thống cửa mở linh hoạt kết hợp với khoảng không dưới sàn góp phần tăng cường thông gió tự nhiên, giảm nhiệt và độ ẩm trong không gian ở. Mái dốc lớn giúp thoát nước nhanh, phù hợp với điều kiện mưa nhiều của khu vực [9], [11].
Bên cạnh đó, việc sử dụng vật liệu địa phương như gỗ, tre, nứa và lá cọ không chỉ đáp ứng yêu cầu xây dựng mà còn phản ánh tri thức bản địa trong khai thác và sử dụng tài nguyên tự nhiên. Những kinh nghiệm thích ứng môi trường này có giá trị tham khảo đối với định hướng phát triển kiến trúc bền vững hiện nay [1], [9].
3.2. Giá trị tổ chức không gian kiến trúc
Giá trị tổ chức không gian là một trong những đặc trưng nổi bật của kiến trúc nhà ở truyền thống dân tộc Tày. Nhà ở thường được bố trí trong tổng thể không gian gồm nhà chính, sân, vườn, ao, đất canh tác và các công trình phụ trợ, phản ánh mô hình cư trú truyền thống gắn với kinh tế nông nghiệp của người Tày tại Tuyên Quang [19].
Không gian nhà ở thể hiện sự kết hợp chặt chẽ giữa chức năng cư trú và sản xuất. Các hoạt động sinh hoạt gia đình, bảo quản nông sản, lưu trữ công cụ lao động và chăn nuôi được tổ chức trong cùng một hệ thống không gian. Đây là giải pháp phù hợp với điều kiện kinh tế nông nghiệp và tập quán sinh hoạt của cộng đồng cư dân địa phương [9], [11].
Bên cạnh đó, không gian sinh hoạt chung có tính linh hoạt cao, vừa là nơi tiếp khách, hội họp gia đình, vừa là nơi tổ chức các nghi lễ và hoạt động văn hóa cộng đồng. Điều này góp phần duy trì sự gắn kết giữa các thành viên trong gia đình và cộng đồng cư dân [1], [11].
3.3. Giá trị kết cấu và kỹ thuật xây dựng
Nhà ở truyền thống dân tộc Tày là kết quả của quá trình tích lũy tri thức xây dựng dân gian qua nhiều thế hệ. Hệ kết cấu khung gỗ với các liên kết mộng và chốt gỗ là đặc trưng nổi bật, tạo nên bộ khung ổn định, bền vững và thuận lợi cho việc sửa chữa hoặc thay thế cấu kiện khi cần thiết [1], [11].
Giá trị kỹ thuật còn thể hiện ở kinh nghiệm lựa chọn vật liệu, xử lý gỗ và tổ chức thi công. Quá trình dựng nhà thường có sự tham gia của dòng họ và cộng đồng, phản ánh tính cộng đồng trong hoạt động xây dựng truyền thống. Đây đồng thời là phương thức truyền dạy tri thức và kỹ năng nghề nghiệp giữa các thế hệ [1], [9]

3.4. Giá trị văn hóa và bản sắc dân tộc
Giá trị văn hóa là lớp giá trị cốt lõi của kiến trúc nhà ở truyền thống dân tộc Tày. Kiến trúc nhà ở phản ánh quan niệm sống hài hòa với thiên nhiên thông qua việc lựa chọn vị trí xây dựng, hướng nhà và tổ chức không gian cư trú [11], [19].
Không gian thờ cúng tổ tiên là thành tố quan trọng trong cấu trúc nhà ở người Tày, đồng thời là nội dung được ghi nhận trong công tác kiểm kê di sản văn hóa dân tộc Tày tại tỉnh Tuyên Quang [12]. Đây là nơi diễn ra các nghi lễ quan trọng của gia đình, thể hiện đạo lý uống nước nhớ nguồn và sự gắn kết giữa các thế hệ.
Nhà ở còn gắn liền với nhiều phong tục, tập quán như chọn đất, dựng nhà, cất nóc và nhập trạch. Thông qua các hoạt động này, kiến trúc trở thành không gian lưu giữ và truyền tải các giá trị văn hóa truyền thống của cộng đồng người Tày [11], [12].
3.5. Giá trị thẩm mỹ kiến trúc
Giá trị thẩm mỹ của kiến trúc nhà ở truyền thống dân tộc Tày được tạo nên từ sự hài hòa giữa hình khối công trình, vật liệu xây dựng và cảnh quan tự nhiên. Tỷ lệ cân đối giữa thân nhà và mái dốc lớn cùng việc sử dụng các vật liệu bản địa như gỗ, tre, nứa, lá cọ tạo nên vẻ đẹp mộc mạc, gần gũi và phù hợp với môi trường miền núi [1].
Nhà ở gắn kết với không gian bản làng, góp phần hình thành cảnh quan văn hóa đặc trưng của cộng đồng người Tày tại Tuyên Quang [12], [19]. Sự kết hợp giữa kiến trúc, văn hóa và môi trường tự nhiên đã tạo nên bản sắc riêng của nhà ở truyền thống dân tộc Tày, là giá trị cần được bảo tồn và phát huy trong phát triển nông thôn hiện nay.
4. Thảo luận
4.1. Những thách thức đối với việc bảo tồn kiến trúc nhà ở truyền thống dân tộc Tày
Kiến trúc nhà ở truyền thống dân tộc Tày đang chịu nhiều tác động từ quá trình hiện đại hóa và phát triển kinh tế - xã hội. Việc sử dụng vật liệu công nghiệp, xây dựng nhà ở kiên cố và thay đổi nhu cầu sinh hoạt đã làm suy giảm số lượng nhà sàn truyền thống cũng như nhiều yếu tố kiến trúc đặc trưng.
Bên cạnh đó, sự khan hiếm nguồn vật liệu tự nhiên, sự mai một đội ngũ thợ thủ công và những biến đổi trong lối sống hiện đại đang đặt ra nhiều thách thức đối với công tác bảo tồn. Quá trình phát triển du lịch cộng đồng cũng tiềm ẩn nguy cơ làm giảm tính nguyên gốc của kiến trúc truyền thống.
4.2. Định hướng bảo tồn và phát huy giá trị kiến trúc nhà ở truyền thống
Bảo tồn kiến trúc nhà ở truyền thống dân tộc Tày cần gắn với mục tiêu phát triển bền vững, trong đó chú trọng duy trì các yếu tố cốt lõi như cấu trúc nhà sàn, tổ chức không gian, vật liệu địa phương và các giá trị văn hóa truyền thống. Đối với các khu dân cư còn lưu giữ kiến trúc truyền thống, cần có giải pháp quản lý phù hợp nhằm bảo vệ cảnh quan và cấu trúc bản làng.
Đồng thời, cần tăng cường nghiên cứu, tư liệu hóa, truyền dạy kỹ thuật xây dựng truyền thống và phát huy vai trò của cộng đồng địa phương. Việc kết hợp bảo tồn với phát triển du lịch cộng đồng và nâng cao sinh kế sẽ góp phần phát huy bền vững các giá trị kiến trúc truyền thống.
5. Kết luận
Kiến trúc nhà ở truyền thống dân tộc Tày tại tỉnh Tuyên Quang là kết quả của quá trình thích ứng lâu dài với điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và môi trường văn hóa địa phương. Thông qua khảo sát và phân tích, nghiên cứu đã nhận diện năm nhóm giá trị cơ bản gồm: giá trị thích ứng với điều kiện tự nhiên; giá trị tổ chức không gian kiến trúc; giá trị kết cấu và kỹ thuật xây dựng dân gian; giá trị văn hóa và bản sắc dân tộc; giá trị thẩm mỹ kiến trúc.
Các giá trị này không tồn tại riêng biệt mà liên kết chặt chẽ, tạo nên bản sắc kiến trúc đặc trưng của cộng đồng người Tày. Tuy nhiên, dưới tác động của quá trình hiện đại hóa, nhiều giá trị truyền thống đang có nguy cơ mai một.
Vì vậy, việc bảo tồn cần được thực hiện theo hướng kế thừa có chọn lọc, kết hợp giữa gìn giữ bản sắc truyền thống và đáp ứng nhu cầu phát triển đương đại. Kết quả nghiên cứu là cơ sở khoa học cho công tác bảo tồn, phát huy giá trị kiến trúc nhà ở truyền thống dân tộc Tày và định hướng phát triển kiến trúc nông thôn bền vững tại tỉnh Tuyên Quang.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Chu Quang Trứ. Kiến trúc dân gian truyền thống Việt Nam. NXB. Mỹ thuật, Hà Nội, 2003.
[2] Cục Thống kê tỉnh Tuyên Quang. Niên giám Thống kê tỉnh Tuyên Quang năm 2022. NXB. Thống kê, Hà Nội, 2023.
[3] Đào Ngọc Khánh Vy, Nguyễn Mạnh Hùng, Nguyễn Trung Hiếu. Một số kết quả khảo sát đánh giá hiện trạng nhà ở của đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi phía Bắc. Tạp chí Xây dựng, số 12/2023.
[4] Lan V.T.H., Thi N.D., Long D.V. et al. Sustainable Development of Minority Ethnic Housing Spaces: A Community Perspective from the Tay People in Tuyen Quang. Civil Engineering and Architecture, vol. 13, no. 6, pp. 4589-4612, 2025.
[5] Nguyen D.T., Vu T.H.L., Le N.P. et al. Sustainable Development of Tay Ethnic Village Spaces in Tuyen Quang Province Through the Preservation and Utilization of Traditional Architectural Values. International Journal of Sustainable Construction Engineering and Technology, vol. 16, no. 2, pp. 145-163, 2025.
[6] Nguyễn Đình Thi. Kiến trúc nhà ở nông thôn. NXB. Xây dựng, Hà Nội, 2011.
[7] Nguyễn Đình Thi. Kiến trúc nhà ở nông thôn trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa. NXB. Xây dựng, Hà Nội, 2020.
[8] Nguyễn Đình Thi (chủ biên). Văn hóa và Kiến trúc. NXB. Xây dựng, Hà Nội, 2022.
[9] Nguyễn Đình Thi, Trần Quốc Bảo. Phát triển bền vững kiến trúc nhà ở truyền thống các dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc. NXB. Xây dựng, Hà Nội, 2024.
[10] Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Ngọc Hương. Phát triển nhà ở các dân tộc thiểu số vùng miền núi phía Bắc trên cơ sở giữ gìn giá trị kiến trúc truyền thống. Tạp chí Xây dựng, số 3/2025.
[11] Nguyễn Khắc Tụng. Nhà cửa các dân tộc ở trung du Bắc Bộ Việt Nam. NXB. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1978.
[12] Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Tuyên Quang. Báo cáo kiểm kê di sản văn hóa dân tộc Tày trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang, Tuyên Quang, 2021.
[13] Thủ tướng Chính phủ. Quyết định số 1246/QĐ-TTg ngày 19/7/2021 phê duyệt Định hướng phát triển kiến trúc Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050, Hà Nội, 2021.
[14] Thủ tướng Chính phủ. Quyết định số 150/QĐ-TTg ngày 28/01/2022 phê duyệt Chiến lược phát triển nông nghiệp và nông thôn bền vững giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050, Hà Nội, 2022.
[15] Trần Quốc Bảo. Phân loại kiến trúc nhà ở truyền thống các dân tộc thiểu số vùng miền núi phía Bắc nhằm quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị. Tạp chí Xây dựng, 2023.
[16] Trần Quốc Bảo, Nguyễn Đình Thi. Thực trạng kiến trúc nhà ở các dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc và định hướng phát triển bền vững. Tạp chí Xây dựng, số 4/2025.
[17] Trần Quốc Bảo, Nguyễn Đình Thi, Mai Quang Khải. Impacts of Culture on Traditional Housing Architecture of Ethnic Minority in the Vietnamese Northern Mountains. Journal of Design and Built Environment, 2024.
[18] Ủy ban Dân tộc - Tổng cục Thống kê. Kết quả điều tra thu thập thông tin thực trạng kinh tế - xã hội của 53 dân tộc thiểu số năm 2019. NXB. Thống kê, Hà Nội, 2020.
[19] Ủy ban nhân dân tỉnh Tuyên Quang. Địa chí Tuyên Quang, Tập I: Điều kiện tự nhiên, dân cư và lịch sử hình thành. NXB. Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2022.

Bài báo tập trung khảo sát và phân tích kiến trúc nhà ở truyền thống dân tộc Tày tại tỉnh Tuyên Quang nhằm nhận diện các giá trị tiêu biểu về thích ứng tự nhiên, tổ chức không gian, kỹ thuật xây dựng dân gian, văn hóa và thẩm mỹ kiến trúc. Kết quả nghiên cứu góp phần bổ sung cơ sở khoa học cho công tác bảo tồn, phát huy giá trị kiến trúc truyền thống và vận dụng các giá trị bản địa trong phát triển kiến trúc đương đại. 

