1. Đặt vấn đề
Lịch sử phát triển vườn truyền thống (VTT) của người Việt gắn liền với nền kinh tế thuần nông và mức độ giao thương bên ngoài hạn chế. Nguồn sống chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp và chăn nuôi theo hình thức tự cung tự cấp, từ đó hình thành những đặc trưng tổ chức vườn mang tính sinh kế rõ nét.
Ở phương diện khác, thế giới quan Á Đông đề cao sự hài hòa và tôn trọng tự nhiên đã chi phối sâu sắc cách thức kiến tạo không gian vườn. Sự kết hợp giữa yếu tố sinh kế và tư tưởng văn hóa này được thể hiện rõ trong các khu vườn lịch sử qua nhiều giai đoạn và vùng miền của Việt Nam.
VTT Việt Nam là kết quả của quá trình chọn lọc tự nhiên và xã hội kéo dài qua nhiều triều đại phong kiến. Từ các giai đoạn khởi đầu như Ngô, Đinh, Tiền Lê, VTT dần phát triển rực rỡ dưới thời Lý, Trần, Hồ, tiếp tục chuyển biến mạnh mẽ trong thời kỳ Lê Sơ, Mạc, Lê Trung Hưng và đạt đến sự hoàn thiện dưới triều Nguyễn.
Trong suốt tiến trình đó, VTT hiếm khi tồn tại như một thực thể độc lập mà thường gắn bó chặt chẽ với hệ sinh cảnh kiến trúc - cảnh quan, giữ vai trò là không gian đệm, chuyển tiếp, bao bọc hoặc mở rộng của công trình kiến trúc.
Trong quá trình phát triển, dưới tác động của quá trình hội nhập, VTT Việt Nam chịu ảnh hưởng bởi các nguyên tắc quy hoạch và thiết kế cảnh quan của phương Tây. Mặc dù có ý thức gìn giữ bản sắc địa phương, nhưng việc kế thừa di sản nghệ thuật VTT trong thực tiễn vẫn còn tự phát và đơn lẻ, chủ yếu giới hạn trong quy mô nhà ở tư nhân và phụ thuộc lớn vào cảm quan thẩm mỹ cũng như năng lực tài chính của nhà đầu tư.
Sự thiếu vắng các nghiên cứu chuyên sâu về giá trị nghệ thuật VTT chưa trở thành một mô hình nhận diện thương hiệu phổ quát, cho phép dễ dàng áp dụng rộng rãi trong bối cảnh đô thị hiện nay. Chính vì vậy, việc nghiên cứu nhận diện các giá trị nghệ thuật VTT là cần thiết, hướng tới khả năng khai thác trong thiết kế cảnh quan đương đại.
2. Phân loại VTT Việt Nam
Căn cứ vào đặc trưng cảnh quan mà VTT Việt Nam có thể phân ra thành 3 nhóm vườn cơ bản như sau [4]:
- Vườn cung đình: Loại vườn gắn với đời sống của vua, chúa và hoàng tộc. Đây là không gian, nơi cảnh quan gắn với các thể chế, chính thống, giai cấp quyền lực, bị chi phối bởi quan điểm của vua chúa và giai cấp thống trị. Vườn cung đình được chia ra thành các nhóm : Vườn kinh thành (ngự uyển); vườn lăng tẩm (tính vĩnh cửu, tâm linh); vườn hành cung (gắn với địa thế đẹp) [1].
- Vườn tín ngưỡng, tôn giáo: Loại hình gắn với cộng đồng và các công trình mang tính chất tín ngưỡng, tôn giáo. Nhóm này bao gồm vườn đình, vườn đền và vườn chùa, đóng vai trò là không gian sinh hoạt tâm linh, đồng thời phản ánh đời sống văn hóa cộng đồng.
- Vườn dân gian (bao gồm vườn thượng lưu và vườn bình dân): Loại hình gắn với các tầng lớp dân cư trong xã hội. Đây là không gian được tổ chức theo phong cách truyền thống của từng vùng địa lý - văn hóa ở Việt Nam, phản ánh đời sống sinh hoạt, điều kiện kinh tế và nguồn gốc văn hóa của cộng đồng, tộc người.
3. Đặc điểm VTT Việt Nam
3.1. Vườn cung đình:
Vườn cung đình thể hiện sự quyền uy, xa hoa. Vườn thường có quy mô lớn, bố cục tôn nghiêm, chính quy, có nhiều yếu tố cảnh quan cùng hiện diện đầy đủ trong một khuôn viên. Vì có sự đầu tư về nhân lực và kinh tế nên vườn cung đình đạt đến đỉnh cao về kỹ thuật tạo hình và ý nghĩa biểu tượng. Đặc điểm vườn cung đình gắn với tính chất, đặc điểm của các triều đại phong kiến Việt Nam:
Vườn cung đình thời nhà Ngô, Đinh, Tiền Lê (thế kỷ X - đầu thế kỷ XI)
Bắt đầu từ các triều đại nhà Đinh, Tiền Lê mới bắt đầu xuất hiện các khu vườn cung đình, liên quan tới kiến thiết kinh đô. Đặc trưng nổi bật của nghệ thuật Vườn cung đình giai đoạn này là sự kết hợp giữa tính thẩm mỹ và chức năng quân sự.
Cảnh quan nơi đây không chỉ mang tính hoành tráng và nương tựa vào địa thế tự nhiên với đồi núi trùng điệp, sông uốn khúc, địa hình núi đá vôi cùng hệ thống sông suối, ao hồ, mà còn được khai thác như một yếu tố phục vụ mục đích phòng thủ.
Dấu ấn này vẫn còn được lưu giữ qua các di tích thuộc quần thể Cố đô Hoa Lư, bao gồm khu vực đền vua Đinh và đền vua Lê (trung tâm Cấm thành xưa), khu vực động Am Tiên (vốn là nơi tịnh tu), cùng chùa Nhất Trụ và chùa Duyên Ninh nằm trong quy hoạch Hoàng thành.
Vườn cung đình thời Lý - Trần (thế kỷ XI - XIV)
Nghệ thuật vườn trong giai đoạn này có xu hướng chuyển dịch từ tư duy phòng thủ sang nhấn mạnh giá trị thẩm mỹ và biểu đạt triết lý. Dưới triều Lý, việc kiến thiết vườn cung đình tại Kinh thành Thăng Long với các công trình như vườn Bảo Hòa (1031), Quỳnh Lâm, Thắng Cảnh, Xuân Quang (1048), cùng việc đào hồ Thụy Thanh và ao Ứng Minh trong khuôn viên Thắng Cảnh (1051), hay xây dựng vườn Thượng Lâm (1065) [1], cho thấy quy mô và sự quan tâm đặc biệt của triều đình đối với không gian cảnh quan.
Những khu vườn này không chỉ phục vụ chức năng nghỉ ngơi, thưởng ngoạn của hoàng gia mà còn mang ý nghĩa biểu tượng cho sự thịnh trị và an lạc của quốc gia, phản ánh hệ tư tưởng, thẩm mỹ cũng như quan niệm về mối quan hệ hài hòa giữa con người và tự nhiên.
So với nhà Lý, nghệ thuật vườn cung đình thời nhà Trần (1225-1400) đạt đến trình độ cao hơn với sự xuất hiện đa dạng của các yếu tố cảnh quan: sơn (non bộ, giả sơn); thủy (ao, hồ nước ngọt và cả hồ nước mặn), mộc (kỳ hoa dị thảo) và động vật (chim, thú nuôi).
Do xuất thân từ vùng sông nước, các vua Trần thường cho dẫn nước mặn hoặc tạo hồ nuôi cá biển trong cung để nhớ về tổ tiên. Nước mặn trở thành một đặc trưng độc đáo của cảnh quan thời nhà Trần. Việc nuôi thú lạ và tạo các hòn non bộ lớn cũng rất thịnh hành giai đoạn này.
Ngày nay, công tác khảo cổ đã phát lộ các dấu tích nền móng về lầu bát giác, giếng nước cổ, đường dẫn nước và chân tảng đá, phần nào thể hiện diện mạo tráng lệ và tinh tế của nghệ thuật vườn cung đình giai đoạn này.
Vườn cung đình thời kỳ biến động của nhà Hồ, Lê Sơ
Bước sang giai đoạn chuyển tiếp và xác lập trật tự Nho giáo (Thời nhà Hồ, Lê Sơ), trong bối cảnh biến động chính trị giao thời giữa nhà Hồ và đầu nhà Lê, nghệ thuật vườn cung đình không định hình phong cách riêng biệt, bị bỏ hoang và bị phá dỡ nhiều.
Đến thời Lê Sơ, tư tưởng Nho giáo đã tác động đến tính chính thống, trật tự, kỷ cương nên cấu trúc vườn cung đình có bố cục nghiêm ngặt, đăng đối. Tổ chức cảnh quan nhấn mạnh các trục thần đạo thể hiện uy quyển, giảm thiểu các yếu tố lãng mạn, phóng khoáng của giai đoạn nhà Lý-Trần.
Thời Lê Trung Hưng
Nền kinh tế hàng hóa phát triển, có sự xuất hiện của vườn trong Phủ Chúa mang tính chất xa hoa, phóng khoáng, xu hướng hưởng thụ thẩm mỹ cao. Lúc này, hình thức thoát khỏi sự nghiêm cẩn của lễ giáo để trở thành nghệ thuật chơi viên lâm đỉnh cao với sự cầu kỳ, lãng mạn, xa hoa của lầu, đài, đình, gác, cửa ngọc, hồ nước, núi non bộ, kỳ hoa dị thảo, các loại cây kiểng, cây to cổ thụ, đá họa, cầu… được mô tả ví như các cảnh tiên [1].
Thời kỳ nhà Nguyễn
Đất nước chia tách thành khu vực Đàng Ngoài và Đàng Trong. Tại vùng đất Đàng Trong, do sự giao thoa với văn hóa Champa, do luồng di cư của người Hoa kết hợp với điều kiện tự nhiên mà nghệ thuật vườn trở nên phóng khoáng hơn, nới lỏng tính trật tự và niêm luật. Nghệ thuật làm vườn đã sử dụng nhiều kỹ thuật khảm sành sứ với màu sắc tươi sáng, có bố cục phá cách nương theo tự nhiên.
Thời kỳ các Chúa Nguyễn định đô tại Kim Long và sau đó là Phú Xuân (Huế) đã xuất hiện nghệ thuật các nhà vườn sơ khai của phủ đệ thân vương, quý tộc, quan lại - được trang trí cầu kỳ bởi non bộ, đá lạ, hồ vuông, hào nước uốn lượn và thủy, có tính vương giả [3].
Đỉnh cao nghệ thuật VTT phải kể đến thời kỳ vua Gia Long và các triều Vua kế tiếp đã xây dựng Huế thành một thành phố vườn, với hàng chục khu vườn ngự phát triển rực rỡ khác nhau về kiểu loại, bài bản theo triết học phương Đông. Có thể phân loại hệ thống vườn cung đình Huế thành hai nhóm chính.
Một là Ngự viên trong chốn cung cấm (Đại Nội) phục vụ nhu cầu sinh hoạt thường nhật, bao gồm Vườn Thiệu Phương, Cơ Hạ, Ngự Viên, Cung Trường Ninh, Cung Diên Thọ, Cung Trường Sanh, Thái Bình Lâu... Hai là Biệt cung và Ly cung (Ngoài Hoàng thành) mang tính chất thưởng ngoạn quy mô lớn với các yếu tố cảnh quan như Hồ Tịnh Tâm, vườn Thư Quang, vườn Thường Mậu, cung Khánh Ninh, cung Bảo Định.
Vườn hành cung
Vườn hành cung là hệ thống không gian xanh gắn với cung điện lâm thời (hành cung, ly cung), phục vụ nhu cầu nghỉ ngơi và làm việc của nhà vua, hoàng gia và quan lại trong các chuyến tuần du, vi hành, tế lễ, chinh chiến hoặc lánh nạn khỏi kinh thành.
So với vườn kinh thành, vườn hành cung có quy mô và hình thức giản lược hơn, ít tuân thủ nghiêm ngặt các niêm luật về trục đối xứng và trục thần đạo. Không gian này dựa tối đa vào địa hình tự nhiên thay vì cải tạo triệt để như vườn trong kinh thành.
Giai đoạn nhà Lý- Trần có vườn hành cung Vũ Lâm (Ninh Bình). hành cung Tức Mặc - Thiên Trường (Nam Định), hành cung Lỗ Giang (Thái Bình). Giai đoạn Lê Sơ - Lê Trung Hưng có vườn Lam Kinh (Thanh Hóa), hành cung Cổ Bi, Gia Lâm. Giai đoạn nhà Nguyễn có vườn hành cung Thuận An; vườn tại các Lăng tẩm Huế.
Vườn lăng tẩm
Vườn lăng tẩm không chỉ đơn thuần là nơi an táng mà còn là một cung điện thứ hai của vua chúa nên đã được thiết kế cực kỳ công phu với quy mô lớn, nghệ thuật đặc sắc, hiện vẫn còn dấu ấn ở Thanh Hóa và Huế. Tại Lam Kinh Vườn - Thanh Hóa, tổ chức cảnh quan tuân thủ nghiêm ngặt các nguyên tắc phong thủy địa lý với bố cục trục thần đạo Nam - Bắc. Các lăng tẩm, điện miếu được bố trí trên các gò đất cao, theo địa hình đồi núi tự nhiên.
Vườn lăng tẩm đóng vai trò quan trọng trong các khu vườn Hoàng gia. Điều đó được thể hiện rõ nét trong khu vườn của lăng Gia Long, gọi là Thiên Thọ lăng. Khu vườn lăng này rộng hơn 2.800 ha mang đậm màu sắc một khu vườn sinh thái [1]. Tuy nhiên vườn lăng thời vua Minh Mạng, Thiệu Trị và Tự Đức (1820 - 1833) phát triển rực rỡ nhất.
Bên cạnh sự đồ sộ và toàn vẹn của quần thể lăng tẩm triều Nguyễn hay tính mực thước của Lam Kinh (Thanh Hóa), lịch sử còn ghi nhận dấu ấn tại Đông Triều (Quảng Ninh) và Long Hưng (Thái Bình) thời nhà Trần, hay Thiên Đức Lăng (Bắc Ninh) thời nhà Lý. Trải qua biến động lịch sử, các di tích kiến trúc không còn nguyên vẹn nhưng các dấu tích khảo cổ vẫn thể hiện nền móng, quy hoạch cảnh quan nương tựa và hình thế sông núi.
3.2. Vườn tín ngưỡng, tôn giáo
Vườn tín ngưỡng, tôn giáo là nhóm vườn đặc thù, là một phần trong cấu trúc tổng thể của các quần thể kiến trúc tâm linh (đình, đền, chùa, phủ, miếu). Đó là không gian chuyển tiếp và kết nối giữa thế giới trần tục và không gian thiêng, được xây dựng nhằm mục đích tổ chức phục vụ các hoạt động nghi thức hành lễ, tu tập và sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng của cộng đồng người Việt.
Về mặt hình thái, nhóm vườn này tuân thủ các nguyên tắc về bố cục, cấu trúc không gian theo trục Thần đạo, theo thuật phong thủy và theo biểu tượng tín ngưỡng, tôn giáo nhằm tạo ra bầu không khí thanh tịnh, trang nghiêm và gắn kết. Có ba loại vườn tín ngưỡng tôn giáo điển hình là: vườn Chùa, vườn Đình và vườn Đền.
Vườn chùa
Khởi phát từ trung tâm Phật giáo cổ Luy Lâu (Chùa Dâu, Chùa Phi Tướng), lịch sử vườn chùa Việt Nam trải qua các giai đoạn thăng trầm gắn liền với vị thế của Phật giáo trong lịch sử dân tộc, tạo nên những đặc điểm không gian riêng biệt.
Thời nhà Lý - Trần đạt đến đỉnh cao về quy mô khi Phật giáo trở thành Quốc giáo, có ảnh hưởng lớn trong triều đình và xã hội [6]. Vào thời nhà Lý, vườn Chùa có quy mô lớn với vườn chùa Một Cột, chùa Dạm, chùa Long Đọi. Vườn thời nhà Trần đã tiếp tục kế thừa thời Lý nhưng phong cách phóng khoáng hơn.
Chùa được xây dựng nương theo địa hình đồi núi để kiến tạo nên đại danh lam có quy mô lớn, để tạo nên không gian thiền định thâm nghiêm theo phương đứng. Điều đó được thể hiện trong vườn chùa Yên Tử, chùa Phật Tích, chùa Quỳnh Lâm, chùa Phổ Minh, chùa Bối Khê, chùa Bích Động. Tại đây có sự hòa nhập giữa kiến trúc và núi rừng tự nhiên.
Quần thể kiến trúc phân tán theo tuyến trải dài. Các vườn ngự trên đồi cao hoặc tại các cao độ hướng tầm nhìn ra khung cảnh rộng mở. Lối lên chùa dẫn theo các bậc thang, tạo sự cung kính nơi linh thiêng cửa Phật.
Sang giai đoạn nhà Hồ, nhà Lê Sơ, nhà Mạc, vườn có sự thu hẹp về kích thước và có xu hướng quay về nông thôn với sự bình dị, ẩn náu trong cấu trúc làng xã (chùa Thái Lạc). Giai đoạn này, do ảnh hưởng của Nho giáo nên nghệ thuật vườn tôn giáo có phần chững lại so với thời Lý - Trần [2]. Vườn chùa có sự chuyển dịch từ hình thức cung đình sang dân gian hóa.
Đến thời Lê Trung Hưng, vườn Chùa lại được phục hồi vị thế trung tâm cộng đồng. Nó gắn liền với sự phát triển của làng xã, trở thành yếu tố không thể thiếu của làng. Vườn chùa được xây dựng mang dáng dấp dân gian nhưng có cấu trúc quy hoạch mạch lạc (bố cục Nội công ngoại quốc).
Các khu vực chức năng được phân chia rõ ràng như vườn tháp, vườn cảnh, vườn sản xuất cùng hệ thống sân và lối dạo kết nối. Điều đó được thể hiện tại vườn chùa Bút Tháp, chùa Keo, chùa Thầy, chùa Tây Phương, chùa Mía.
Tại tiểu vùng văn hóa Huế, các vườn chùa không uy nghi niêm luật như miền Bắc mà có tính thơ mộng, thâm trầm, mang chất văn nhân nho nhã. Điều đó thê hiện trong vườn chùa Thiên Mụ, chùa Từ Hiếu. Một số vườn miền Trung có dấu ấn văn hóa Champa bản địa, vườn Nam Bộ có sự giao thoa văn hóa Việt - Hoa - Khmer. Nhìn chung, do điều kiện tự nhiên trù phú vùng sông nước nên vườn chùa mang đậm tính chất phóng khoáng, cởi mở, bình dị, dung hợp.
Ở đây, vườn chùa được xây dựng rộng rãi, không bị khép kín và giảm nhẹ niêm luật đặc trưng (Giác Lâm). Màu sắc các họa tiết trang trí tươi sáng, nhiều hoa văn hơn, vật liệu xây dựng đa dạng, sử dụng nhiều sành gốm.
Về một số đặc điểm hình thức, vườn chùa định hình bởi các yếu tố cấu thành mang tính biểu tượng cao, cốt lõi như mặt nước (hồ sen, thủy đình) và hệ thực vật thanh khiết (trúc, sen, đại, ngâu, mộc). Tất cả tạo nên một không gian thanh tịnh hướng con người đến sự bình yên.
Vườn đình
Vườn đình gắn liền với kiến trúc Đình. Đây là loại hình kiến trúc chuyển biến từ giai đoạn sơ khai vốn là trạm nghỉ chân (đình chạm) sang hình thái của trung tâm hành chính, văn hóa, tín ngưỡng (thờ Thành hoàng), từ thời nhà Mạc - Lê Trung Hưng. Kiến trúc Đình mang tính mở phục vụ sinh hoạt cộng đồng.
Vườn đình thường có bố cục rộng rãi vuông vắn với trục định vị rõ ràng của hồ nước, sân đình và Tả vu- Hữu vu. Yếu tố mặt nước (ao đình) đóng vai trò điều hòa khí hậu, gắn với nhiều loài cây cổ thụ mang tính thiêng (đa, gạo, đề). Chúng trấn giữ vị trí tiền án hoặc đối xứng hai bên nhằm tạo bóng mát và định vị không gian.
Tổng thể này không chỉ biểu đạt quyền uy hành chính của làng xã mà còn là biểu tượng của sự gắn kết cộng đồng. Điều đó được minh chứng qua các di tích tiêu biểu: ở Bắc Bộ có vườn đình Đình Tây Đằng, Đình Chu Quyến, Đình Thổ Hà, Đình Mông Phụ, Đình Kim Liên; ở Nam Bộ có vườn đình Đình Kim Long, Đình Bình Thủy và Đình Tân Đông.
Vườn Đền
Vườn đền gắn liền với các ngôi đền - nơi thờ cúng các bậc thánh, thần linh tự nhiên, nhân vật lịch sử hay những anh hùng dân tộc được thần thánh hóa. Khác với tư duy không gian mở của đình hay vẻ thanh tịnh của chùa, vườn đền có xu hướng tách biệt khỏi đời sống thế tục nhằm tạo cảm giác linh thiêng và uy nghiêm. Thường tọa lạc ở những vị trí đắc địa về phong thủy như núi cao, ngã ba, ven sông hoặc trong rừng già, vườn đền duy trì hệ sinh thái tự nhiên với các loài cây cổ thụ, rễ dài, tán rộng (sanh, si, đa) cùng hệ dây leo chằng chịt.
Tổng thể hệ thực vật che khuất ánh sáng đã tạo nên bầu không khí thâm trầm, u tịch, thâm nghiêm, huyền bí. Trong khi các yếu tố thủy văn như khe suối, hạng động hay tiểu cảnh non bộ được sắp đặt để mô phỏng thế giới hữu linh của các vị thần thánh.
Tính chất này được minh chứng rõ nét qua sự hùng vĩ của các di tích gắn liền với núi cao như Đền Hùng (Phú Thọ), Đền Thượng (Ba Vì), Đền Chúa Thác Bờ (Phú Thọ); Một số di tích nằm bên sông nước như hang động của Đền Đồng Cổ (Thanh Hóa), Đền Kiếp Bạc (Hải Phòng); Một số nằm biệt lập giữa môi trường dân cư đông đúc như Đền Đô (Bắc Ninh), Đền Ngọc Sơn (Hà Nội). Chúng đã khẳng định sự uy nghiêm của thế giới tâm linh trong tâm thức dân gian.
3.3. Vườn dân gian
Vườn dân gian là các vườn tư gia (vườn trong khuôn viên của nhà ở), là thành tố gắn liền với đời sống hằng ngày của người dân. Vườn dân gian xuất phát từ nền tảng văn minh lúa nước với tư tưởng chủ đạo là “xã hội thuần nông”, tác động sâu sắc tới cấu trúc không gian ở của người Việt. Tùy theo sự phân tầng xã hội, kinh tế mà vườn dân gian chia thành vườn bình dân và vượn thượng lưu, phản ánh vị thế kinh tế và quan niệm thẩm mỹ của từng giai tầng.
Thứ nhất, đối với vườn bình dân là loại vườn gắn với đại bộ phận người dân lao động, với nhu cầu sinh kế, thực dụng. Trong vườn trồng tập trung các cây ăn quả, cây bóng mát đóng vai trò cung cấp sản phẩm và vật liệu thiết yếu. Về mặt hình thức, vườn bình dân thường nhỏ, mang tính tự phát.
Chúng được tổ chức linh hoạt, tự do, phi chính quy, ứng xử linh hoạt theo điều kiện đất đai, ranh giới bao quanh và sở thích cá nhân. Vẻ đẹp thường nằm ở sự mộc mạc, tính thích ứng cao với môi trường sống.
Thứ hai, đối với vườn thượng lưu là loại vườn của các tầng lớp quan lại, nho sĩ, giới giàu có. Ví dụ tiêu biểu là mô hình nhà vườn ở Huế. Khác với tính chất sinh kế thuần túy của vườn bình dân, vườn thượng lưu phản ánh đời sống tinh thần, trí thức và địa vị xã hội.
Cấu trúc vườn được quy hoạch bài bản, cầu kỳ, chịu ảnh hưởng của triết lý Nho giáo và nguyên tắc Phong thủy. Hình thức thường có các yếu tố như bình phong, non bộ, bể cảnh các loài kỳ hoa dị thảo thể hiện tính biểu tượng và văn hóa.
Dù tồn tại hình thức bình dân hay thượng lưu, vườn dân gian truyền thống đều thể hiện mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên, phản ánh đời sống đa dạng của xã hội người Việt trong lịch sử ở các vùng miền.
Sự đa dạng của nghệ thuật Vườn dân gian truyền thống được thể hiện khác nhau tại các vùng miền:
Tại vùng Đồng bằng Bắc Bộ (người Kinh)
Nghệ thuật vườn truyền thống Bắc Bộ thể hiện rõ trong cách tổ chức các thành phần chức năng của khuôn viên nhà ở, cũng như trong việc lựa chọn hướng nhà, vị trí cổng ngõ, bố trí hòn non bộ, cây xanh và mặt nước. Không gian vườn không chỉ mang giá trị thẩm mỹ tạo hình mà còn thích ứng hiệu quả với điều kiện khí hậu đặc trưng của vùng nông thôn Đồng bằng Bắc Bộ, đặc biệt là yếu tố nắng nóng mùa hè và gió mùa đông bắc. Ví dụ tiêu biểu có thể kể đến nhà vườn tại Làng cổ Đường Lâm và các nhà vườn truyền thống ở Làng khoa bảng Đông Ngạc.
Vườn dân gian vùng Núi phía Bắc (Người Tày, Thái, H’Mông)
Vườn dân gian ở vùng này nương tựa vào thiên nhiên, gắn với nương rẫy. Không có ranh giới rõ rệt giữa vườn và rừng, vườn được tổ chức quanh nhà sàn của người dân tộc. Thành phần cảnh quan bao gồm mương dẫn nước suối vào nhà, vườn thuốc, vườn trồng cây. Các cây trồng mang tính bản địa cao, đặc trưng là các mùa hoa.
Nếu vườn dân gian phía Bắc mang dấu ấn của thiên nhiên thì Vườn dân gian truyền thống miền Trung và Huế (người Kinh và người Chăm) mang dấu ấn của văn hóa rõ nét.
Khu vực này ảnh hưởng bởi tư tưởng Nho giáo và văn hóa cung đình, tạo nên loại hình vườn nhà Rường, nhiều cây tạo bóng mát. Vườn Huế với bố cục vận dụng phong thủy, theo trục cổng - nhà chính - bình phong - bể cạn - sân - vườn rau - ao cá. Khuôn viên nhà được rào bằng hàng cây dâm bụt, chè tàu. Cổng ngõ, bình phong với cây bụi, thảo mộc được xén tỉa cầu kỳ, trồng các loại cây văn nhân như mai, tùng, cúc, ví dụ như: vườn nhà rường Kim Long (Huế), vườn của người Chăm (Ninh Thuận)
Vườn dân gian truyền thống vùng Nam Bộ (người Kinh, người Khơ-me, người Hoa)
Thể hiện tính cởi mở với cấu trúc không tường rào bao quanh. Chúng được kết nối trực tiếp và bám dọc kênh rạch, trồng nhiều loại cây có sự liên kết với thiên nhiên mặt nước ( Cây Đước) Cảnh quan hàng rào có tính ước lệ, ít phân định và không kiên cố, công phu như hàng rào vùng miền Bắc. Ở vùng Tây Nam Bộ (Cần Thơ), vườn gắn liền sông rạch.
Trong khi đó, vườn vùng Đông Nam Bộ nhờ thế đất cao, khuôn viên lớn nên môi trường thiên nhiên xanh tốt, rộng rãi và trù phú. Hệ thống mương rạch trong vườn làm chức năng tưới tiêu, trữ nước lúc khô hạn. Các cây trồng có bộ rễ khỏe chịu được nước mặn. Nhà ở trên kênh rạch, miệt vườn là những mô hình đặc trưng thể hiện ứng xử với thiên nhiên của người Nam Bộ, ví dụ như: Miệt vườn Cái Mơn (Bến Tre).
4. Kết luận
VTT gắn liền với các thể loại kiến trúc và chức năng sử dụng, vừa có yếu tố bất biến đổi gắn liền với đặc trưng địa lý, văn hóa, lại vừa có yếu tố biến đổi phụ thuộc vào thể loại công tình, đối tượng sử dụng và quan niệm, triết lý. Sự biến đổi hình thức và cấu trúc VTT được nhận diện qua các giai đoạn lịch sử, các triều đại (trục thời gian) và các vùng miền (trục không gian).
Nhận diện VTT Việt Nam bao gồm ba nhóm: vườn cung đình, vườn tôn giáo - tín ngưỡng và vườn dân gian, mỗi nhóm mang những đặc trưng riêng. Hiện nay, bên cạnh những di sản vườn còn giữ được tính nguyên vẹn, một bộ phận lớn đã bị phá bỏ hoặc thay thế một cách đáng tiếc.
Vì vậy, việc nhận diện và hệ thống hóa các giá trị vốn có bằng phương pháp thực chứng là hết sức cần thiết. Nghiên cứu này không chỉ nhằm mục đích bảo tồn mà còn là tiền đề để thiết lập các bộ nguyên tắc tổ chức không gian (Design Guidelines), từ đó tạo ra các mô hình cảnh quan đa dạng trong bối cảnh đô thị hóa. Kết quả nghiên cứu cho thấy tiềm năng to lớn của việc khai thác các giá trị nghệ thuật vườn truyền thống Việt Nam trong thiết kế cảnh quan đương đại.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Phan Thanh Hải, Vườn cung đình Việt Nam - lịch sử, hiện trạng và vấn đề nghiên cứu, phục hồi, Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế, 2020.
[2] Nguyễn Phi Hoanh, Mỹ thuật Việt Nam, TP Hồ Chí Minh, 1984.
[3] Quốc Sử Quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục, tập 1, tr. 158, 1978.
[4] Nguyễn Đình Thi, Giáo trình lịch sử kiến trúc, NXB Xây dựng, 2020.
[5] Nguyễn Thị Thanh Thủy, Tổ chức và quản lý môi trường cảnh quan đô thị, NXB Xây dựng, 1997.
[6] Nguyễn Thị Thanh Thủy và Tôn Ánh Hồng, Kiến trúc cảnh quan Việt Nam truyền thống và hiện đại, NXB Xây dựng, Hà Nội, tr. 193, 2019.
[7] Võ Thị Thu Thủy, Thiên nhiên trong kiến trúc nhà ở truyền thống Việt, NXB Xây dựng, Hà Nội, 2020.
[8] Phạm Anh Tuấn và Lê Khánh Ly, Lịch sử vườn cảnh, NXB Xây dựng, Hà Nội, tr. 150, 2020.
[9] Viện Khoa học Xã hội Việt Nam (dịch), Đại Việt sử ký toàn thư (dịch theo bản năm Lê Chính Hòa 1697), tập 1, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1993.

Bài viết tổng hợp và phân tích các tư liệu lịch sử liên quan đến vườn truyền thống Việt Nam theo từng thời kỳ và không gian văn hóa đặc trưng. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất phân loại thành ba nhóm cơ bản: vườn cung đình, vườn tín ngưỡng - tôn giáo và vườn dân gian. 

