Ngày 15/5/2023, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định 500/QĐ-TTg phê duyệt Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 (Quy hoạch điện VIII).
Theo đó, danh mục các dự án thủy điện tiềm năng nêu tại Phụ lục III, theo Quyết định số 500/QĐ-TTg ngày 15/5/2023 gồm 14 dự án: Thủy điện Thái An MR, công suất 41MW; Thủy điện Tuyên Quang MR, công suất 120 MW; Thủy điện Trung Sơn MR, công suất 130 MW; Thủy điện Srepok 3 MR, công suất 110 MW; Thủy điện Sesan 3 MR, công suất 130 MW; Thủy điện Sesan 4 MR, công suất 120 MW; Thủy điện Buôn Kuốp MR, công suất 140 MW; Thủy điện Vĩnh Sơn MR, công suất 40 MW; Thủy điện Sông Hinh MR, công suất 70 MW; Thủy điện Sông Ba Hạ MR, công suất 60 MW; Thủy điện Đa Nhim MR 2, công suất 80 MW; Thủy điện Đăk R’lấp 1, công suất 53 MW; Thủy điện Đăk R’lấp 2, công suất 68 MW; Thủy điện Đăk R’lấp 3, công suất 82 MW.
Các dự án này sẽ được xem xét trong kế hoạch thực hiện quy hoạch và sau này. Riêng đối với 03 các dự án thủy điện: Đăk R’lấp 1, Đăk R’lấp 2 và Đăk R’lấp 3 phải được xem xét, đánh giá kỹ lưỡng về tác động môi trường, đất đai, ảnh hưởng đến rừng của dự án.
Các dự án thủy điện cột nước thấp trên dòng chính sông Hồng, sông Cả, sông Đồng Nai và các dòng sông khác do các địa phương (Lào Cai, Yên Bái, Nghệ An, Bình Phước, Lâm Đồng, Đắk Nông…) đề xuất sẽ tiếp tục được nghiên cứu, đánh giá kỹ lưỡng toàn diện, báo cáo Thủ tướng Chính phủ cho phép triển khai nếu đảm bảo các yêu cầu về kinh tế - kỹ thuật, môi trường, dân cư, hạ tầng dọc sông, tưới tiêu, giao thông thủy - bộ...
Các dự án thủy điện mở rộng khác do các địa phương đề xuất sẽ tiếp tục được nghiên cứu, đánh giá kỹ lưỡng về hiệu quả kinh tế, kỹ thuật, môi trường, nhu cầu hệ thống, thời điểm xuất hiện... để báo cáo Thủ tướng Chính phủ.
Theo Phương án phát triển điện lực quốc gia trong Quy hoạch điện VIII, thủy điện là một trong những nguồn năng lượng tái tạo bên cạnh điện gió trên bờ và ngoài khơi, điện mặt trời, sinh khối được tiếp tục đẩy mạnh phát triển phù hợp với khả năng bảo đảm an toàn hệ thống với giá thành điện năng hợp lý.
Quy hoạch điện VIII cũng nêu rõ: Khai thác tối đa tiềm năng các nguồn thủy điện (tổng tiềm năng của Việt Nam khoảng 40.000 MW) trên cơ sở bảo đảm môi trường, bảo vệ rừng, an ninh nguồn nước.
Nghiên cứu mở rộng có chọn lọc các nhà máy thủy điện hiện có để dự phòng công suất; khai thác thủy điện trên các hồ thủy lợi, hồ chứa nước để tận dụng nguồn thủy năng.
Tới năm 2030, tổng công suất các nguồn thủy điện, bao gồm cả thủy điện nhỏ dự kiến đạt 29.346 MW, sản xuất 101,7 tỷ kWh, có thể phát triển cao hơn nếu điều kiện kinh tế - kỹ thuật cho phép.
Định hướng năm 2050, tổng công suất thủy điện đạt 36.016 MW, sản xuất 114,8 tỷ kWh.
Quy định về nguồn điện lưu trữ, Quy hoạch điện VIII cũng nêu rõ: Phát triển các nhà máy thủy điện tích năng với quy mô công suất khoảng 2.400 MW đến năm 2030 để điều hòa phụ tải, dự phòng công suất và hỗ trợ tích hợp các nguồn năng lượng tái tạo với quy mô lớn.
Trong cơ cấu nguồn điện đến năm 2030, tổng công suất các nhà máy điện phục vụ nhu cầu trong nước 150.489 MW, thì thủy điện 29.346 MW (19,5%), có thể phát triển cao hơn nếu điều kiện kinh tế - kỹ thuật cho phép; Thủy điện tích năng 2.400 MW (1,6%).
Định hướng năm 2050, tổng công suất các nhà máy điện 490.529 - 573.129 MW, thì thủy điện 36.016 MW (6,3 - 7,3%).
Theo Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), tháng 3/2023, sản lượng điện sản xuất toàn hệ thống đạt 23,22 tỷ kWh. Trong đó, tỷ lệ huy động nguồn điện từ thủy điện trên tổng sản lượng điện sản xuất toàn hệ thống đạt 15,38 tỷ kWh, chiếm 24,9%.

Theo quy hoạch điện VIII, có 14 dự án thủy điện tiềm năng sẽ được xem xét trong kế hoạch thực hiện quy hoạch. Các dự án thủy điện trên dòng chính sông Hồng, sông Cả, sông Đồng Nai do các địa phương đề xuất sẽ tiếp tục được nghiên cứu, đánh giá… 

