Những lợi ích khi áp dụng mô hình quy hoạch XHCN trong thực tiễn hiện nay?

Vừa qua, tại phiên họp tập thể thường kỳ tháng 5/2026 của UBND TP Hà Nội, các đại biểu đã xem xét, cho ý kiến đối với dự thảo “Đề án triển khai thí điểm mô hình xã, phường XHCN trên địa bàn Hà Nội”. Điều này chắc chắn sẽ đặt ra một số thắc mắc trong cộng đồng dân cư về lợi ích và hiệu quả chung.

Về mặt quy hoạch đô thị, với nhiều điểm ưu việt trên thế giới và cả tại Việt Nam, mô hình quy hoạch đô thị XHCN nếu được thực hiện một cách đầy đủ và chuẩn xác sẽ có thể góp phần mang lại nhiều đóng góp tích cực cho công cuộc chỉnh trang đô thị, phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân trong tương lai.

Đánh giá một cách tổng thể, mô hình quy hoạch XHCN đã thể hiện rất rõ những ưu việt vượt trội so với nhiều mô hình quy hoạch đô thị kiểu công nghiệp của phương Tây lúc bấy giờ. Dựa trên nền tảng tư tưởng triết học Mác - Lê Nin, các kiến trúc sư XHCN đi đầu bởi nền kiến trúc Xô Viết và các nước Đông Âu cũ đã xây dựng một nền tảng quy hoạch đô thị đậm chất nhân văn, trong đó lấy tư tưởng “nghệ thuật vị nhân sinh” được đặt lên vị trí hàng đầu với trọng tâm là đại bộ phận quần chúng nhân dân lao động. 

Cụ thể, các tiêu chí nguyên tắc nền tảng chính mà các đồ án quy hoạch đô thị mô hình XHCN lúc bấy giờ về cơ bản luôn đạt được bao gồm: (1) Tổ chức cấu trúc không gian theo tầng bậc để tối ưu hiệu quả sử dụng và vận hành, quản lý; (2) Xây dựng các chiến lược, kế hoạch tổ chức thực hiện quy hoạch trong thực tiễn để hỗ trợ tích cực thúc đẩy nền kinh tế phát triển, giúp giảm thiểu các rủi ro trong quá trình triển khai và sử dụng; (3) Thúc đẩy và hỗ trợ xây dựng hoàn thiện chất lượng cuộc sống và xây dựng phong cách sống con người XHCN; (4) Góp phần ngày một cải thiện các nhược điểm còn tồn tại cũng như nâng cao chất lượng đời sống người dân. Cho đến nay, các mục tiêu trên vẫn còn nguyên giá trị mà nhiều đồ án quy hoạch hiện đại vẫn còn đặt ra.

Ở cấp độ toàn đô thị, các nhà quy hoạch đô thị XHCN tiên phong bởi các kiến trúc sư quy hoạch Xô Viết hướng tới các cấu trúc đô thị thích nghi được với quá trình luôn biến động của đô thị đương đại lúc bấy giờ bằng cách tổ chức cấu trúc đô thị động cho phép phần phát triển mới trong quá trình phát triển đô thị gần như không gây ảnh hưởng đến phần hiện hữu của đô thị. Ví dụ tiêu biểu đầu tiên là mô hình quy hoạch đô thị năm 1932 của quy hoạch gia L.Ladopski đề xuất áp dụng cho phương án quy hoạch cải tạo thủ đô Moscow.

Thay vì mở rộng đô thị theo hình thức đồng tâm truyền thống làm cho khu vực trung tâm dễ bị quá tải, mô hình này lại tái cấu trúc đô thị phát triển về một phía để kéo theo sự phát triển của trung tâm và khu sản xuất đô thị cho phép đô thị có thể tự phát triển điều chỉnh cân bằng và ổn định.

Cùng với đó, Mô hình “thành phố dải” của quy hoạch gia Nikolay Alexandrovich Miliutin đề xuất năm 1929 - 1930 hướng tới giải pháp quy hoạch cấu trúc đô thị phát triển theo phương kéo dài về hai phía (có đầy đủ các khu chức năng của một đô thị công nghiệp hiện đại) mà không làm thay đổi khu vực đô thị cũ. Điều này đã mang đến rất nhiều cơ hội để chỉnh trang và phát triển đô thị một cách bền vững, có bản sắc riêng. (Hình 1)

Hình 1. Hình ảnh đô thị Volgograd (CHLB Nga) hiện nay phát triển thịnh vượng trên cơ sở mô hình quy hoạch “thành phố dải” (nguồn internet)

Đặc biệt và quan trọng hơn ở cấp độ đơn vị ở cơ sở phải kể đến là mô hình quy hoạch “Khu ở dạng tiểu khu” - một trong những đóng góp quý giá, trở thành nền tảng cơ sở cho nhiều nguyên mẫu quy hoạch đô thị hiện đại ở nhiều quốc gia trên thế giới bao gồm cả Việt Nam.

Trên cơ sở kế thừa một số nguyên tắc thiết kế của các nước Âu, Mỹ trước đó (như mô hình đơn vị ở láng giềng, quy hoạch thành phố vườn tại Hoa Kỳ…), các mô hình quy hoạch tiểu khu ở đã có sự điều chỉnh bổ sung hướng đến gia tăng chất lượng phục vụ tối ưu nhất cho sinh hoạt của người dân (như tổ chức hệ thống giao thông khu vực được tổ chức là các đường cụt hạn chế các trục đường giao thông xuyên tâm qua các tiểu khu nhà ở để tránh tai nạn giao thông; trong tiểu khu nhà ở chia thêm cấp phục vụ nhóm ở với trung tâm là công trình mẫu giáo - nhà trẻ để đảm bảo khả năng tiếp cận nhanh chóng, an toàn, nhà ở trong tiểu khu nhà ở chủ yếu là nhà chung cư có khoảng không gian cây xanh và vườn trẻ đảm bảo tính sinh thái, tiện nghi… (Hình 2)

Hình 2. Sơ đồ mô phỏng cấu trúc đô thị tầng bậc với tiểu khu nhà ở là đơn vị cơ sở tại các nước XHCN Đông Âu và Liên Xô cũ (nguồn ảnh: internet)l

Chỉ riêng giai đoạn 1970 - 1975 trên khắp lãnh thổ Liên bang Xô Viết cũ đã xây dựng được trên 170 điểm dân cư đô thị theo mô hình này, mang đến những thành tựu hình ảnh đời sống và chất lượng sinh hoạt vượt trội cho người dân. 

Cũng theo mô hình này, thủ đô Praha (Tiệp Khắc cũ) năm 1950 cũng hướng đến phát triển những khu dân cư mới trên 100 nghìn người với hệ thống trung tâm thương mại dịch vụ đồng bộ tại các vùng ven đô. Các chức năng trung tâm công cộng đô thị tại các khu dân cư mới một mặt hỗ trợ hoàn thiện chức năng của trung tâm đô thị mặt khác trở thành các cực hút sự phát triển của khu đô thị mới để giảm mật độ ở các quận trung tâm đô thị. Tiêu biểu như khu dân cư mới Tây Nam Praha, có quy mô 120 nghìn dân với hệ thống hạ tầng dịch vụ tiện nghi đồng bộ. (Hình 3,4)

Hình 3. Hình ảnh những khu ở tiện nghi theo mô hình tiểu khu hoàn thành trong những năm giữa thế kỷ 20 tại Praha (Tiệp Khắc cũ) và Wasaw (Ba Lan) (nguồn: internet)

Tại Ba Lan, mô hình đơn vị ở với cấu trúc tầng bậc được áp dụng trong các định hướng phát triển không gian đô thị đã được áp dụng mang đến nhiều cơ hội tái thiết hồi sinh lớn cho các đô thị bị xuống cấp và tàn phá sau chiến tranh thế giới II.

Tiêu biểu nhất là mô hình tiểu khu của kiến trúc sư S.Kozinski đã đề xuất với cấu trúc đơn vị đô thị chính (khu dân cư) có quy mô 40 nghìn người cho phép tối đa hoá hiệu quả phục vụ của khu trung tâm thương mại dịch vụ.

Các khu dân cư sẽ được kết nối để hợp thành cấp tiểu khu lớn hơn với quy mô xấp xỉ khoảng 100 nghìn người tổ chức trên cơ sở theo dạng tuyến vị trí bám hai bên các trục giao thông cho phép khả năng tương hỗ với nhau cũng như phục vụ tốt nhất khi đô thị có điều kiện giao thông được cơ giới hoá cao.

Hình 4. Hình ảnh những khu ở tiện nghi tại thành phố Zelenograd (CHLB Nga) với các toà chung cư cao tầng kèm theo công trình dịch vụ tiện ích ở trung tâm có bán kính phục vụ rất tiện lợi và nhanh chóng (nguồn internet)

Tại Bulgaria, trong giai đoạn thập niên 1950 - 1970 đã phát triển nhanh chóng các khu dân cư mới với cơ cấu cũng được tổ chức theo cấu trúc tầng bậc như các đô thị XHCN mang đến chất lượng sống rất cao cho người dân. Trong đó, thay vì bố chí tập trung tại trung tâm các tiểu khu một cách khô cứng, các công trình tiện ích được nghiên cứu quy hoạch cẩn thận theo các vị trí phân tán đều khắp với bán kính phục vụ được đề xuất từ 800 - 1.200 m đối với quy mô phục vụ khu dân cư và 250 - 400 m đối với quy mô phục vụ tiểu khu nhà ở.

Trong quá khứ, đặc biệt là những thập kỷ 1970 - 1990, mô hình quy hoạch đô thị XHCN cũng đã từng được nghiên cứu áp dụng tại Việt Nam tiêu biểu như mô hình các khu tập thể Giảng Võ, Thành Công, Trung Tự, Kim Liên, Trung Tự (Hà Nội) trước đây.

Điểm minh chứng rõ nét nhất chính là cho đến nay, dù các khối nhà tập thể chung cư cao tầng cũ đã xuống cấp do niên hạn kết cấu đã hết, nhưng rất nhiều dân cư hiện hữu vẫn luôn muốn tiếp tục được gắn bó lâu dài bởi các giá trị “lấy người dân làm trung tâm” mà các phương án quy hoạch mang lại thông qua trước tiên chính sự tiện lợi và hợp lý trong khả năng tiếp cận các dịch vụ tiện ích như: trường học, trạm y tế, chợ dân sinh, công viên cây xanh… tại các khu ở như thế này. Cùng với đó, rất nhiều người dân sau khi đã chuyển đi để sinh sống tại các khu đô thị mới vẫn luôn hàng ngày trở về các khu chung cư cũ này để cho con đi học, đi chợ… bởi những chất lượng sử dụng và tiện nghi vượt trội. (Hình 5)

Hình 5. Hình ảnh khu tập thể Giảng Võ (Hà Nội) quy hoạch theo mô hình XHCN với các khối nhà chung cư cao tầng và công trình tiện ích tiện nghi (trường học, công viên, dịch vụ thương mại…) ở trung tâm (nguồn: internet)

Như vậy, việc triển khai mô hình “Đề án triển khai thí điểm mô hình xã, phường XHCN trên địa bàn Hà Nội” với việc nghiên cứu kế thừa và áp dụng các mô hình quy hoạch XHCN sẽ góp phần mang đến nhiều cơ hội lớn trong chỉnh trang và phát triển đô thị trong thời gian tới.

Tuy nhiên, do sự khác biệt về điều kiện và thời điểm áp dụng, nhu cầu sử dụng của người dân hiện nay, nên cần có những đánh giá, chọn lọc để một mặt kế thừa và phát huy những yếu tố tích cực, triết lý nhân văn tốt đẹp của mô hình quy hoạch đô thị XHCN. Đồng thời hạn chế triệt để các tồn tại hạn chế như bố trí hệ thống các công trình tiện ích không đủ, bán kính sử dụng quá lớn kéo theo những hạn chế khả năng tiếp cận của người dân hoặc ngược lại bố trí quá dày đặc dẫn đến dư thừa và lãng phí do không sử dụng hết công suất sử dụng của công trình.

Bình luận
Công ty IDECO Công ty Cổ phần cảng Nghệ Tĩnh Trung tâm dạy nghề tư thục Tùng Linh Công ty CP Hoa tiêu hàng hải Công ty portcoast Bến xe tàu Cà Mau Công ty Xe đạp Thống Nhất