1. Mở đầu
Áp dụng BIM trong hoạt động xây dựng là xu thế tất yếu để ngành Xây dựng Việt Nam đạt được mục tiêu số hóa. Tuy nhiên, việc triển khai BIM tại các địa phương trên cả nước đối với nhiều loại hình dự án khác nhau hiện vẫn chưa thống nhất; do đó, việc xây dựng các tiêu chuẩn hướng dẫn áp dụng BIM là cần thiết.
Tổng Công ty Tư vấn xây dựng Việt Nam là đơn vị biên soạn TCVN 14177-1:2024 và TCVN 14177-2:2024, đồng thời nghiên cứu biên soạn tài liệu “Hướng dẫn áp dụng TCVN Tổ chức và số hóa thông tin về nhà và công trình dân dụng, bao gồm mô hình hóa thông tin công trình (BIM) - Quản lý thông tin sử dụng mô hình hóa thông tin công trình, Phần 1: Khái niệm và nguyên tắc và Phần 2: Giai đoạn chuyển giao tài sản” nhằm hướng dẫn áp dụng hai tiêu chuẩn này.
Hai tiêu chuẩn quốc gia TCVN 14177-1:2024 và TCVN 14177-2:2024 là những văn bản bao gồm nhiều khái niệm và quy trình mang tính học thuật, được chuyển nghĩa tương đương từ ISO 19650-1:2018 và ISO 19650-2:2018, nên có thể gây khó khăn cho các bên liên quan trong việc hiểu và áp dụng [1, 2].
Vì vậy, trong bài báo này, tác giả đề cập và làm rõ một số lưu ý liên quan đến việc áp dụng BIM trong hoạt động xây dựng theo TCVN 14177-1:2024 và TCVN 14177-2:2024, thông qua phương pháp phân tích nội dung hai tiêu chuẩn này và tài liệu hướng dẫn kèm theo, kết hợp đối sánh với ISO 19650 và các hướng dẫn quốc tế.
2. Những nội dung cần lưu ý khi áp dụng BIM theo tiêu chuẩn TCVN 14177-1:2024 và TCVN 14177-2:2024
2.1. Những khái niệm và nguyên tắc khi áp dụng BIM
Khi áp dụng BIM trong hoạt động xây dựng theo TCVN 14177-1:2024 và TCVN 14177-2:2024, một dự án không chỉ bao gồm một mà là nhiều Thỏa thuận thông tin (Information Appointment) [3-6].
Quản lý thông tin dự án đầu tư xây dựng bao gồm phát triển các thỏa thuận thông tin đã được phê duyệt từ trước và có thể có một/nhiều thỏa thuận thông tin mới xuất hiện [6].
Thỏa thuận thông tin [6] được hiểu là chỉ dẫn được thống nhất về việc cung cấp thông liên quan đến công việc, hàng hóa hoặc dịch vụ. Mỗi thỏa thuận thông tin bao gồm các hoạt động từ mời thầu để tạo lập thông tin đến chuyển giao mô hình thông tin [7, 8] và được thực hiện bởi ba chủ thể gồm Bên khai thác (Appointing party), Bên điều chuyển (Lead appointed party) và Bên tạo lập (Appointed party) [6, 9-12].
Các yêu cầu thông tin được xác định bởi Bên khai thác, được chuyển giao cho Bên tạo lập thông qua Bên điều chuyển và ngược lại thông tin do Bên tạo lập hình thành cũng sẽ được chuyển đến Bên khai thác thông qua Bên điều chuyển tại Hình 1. Theo [3, 4, 6, 13], Yêu cầu thông tin (Information Requirement) là đặc điểm kỹ thuật cho thông tin được tạo lập bao gồm các yếu tố: thông tin gì, khi nào, như thế nào và cho ai.
Yêu cầu thông tin giúp xác định đầu vào cho quản lý thông tin, đảm bảo rằng thông tin phù hợp được chuyển đến đúng địa chỉ vào đúng thời điểm để đáp ứng một mục đích cụ thể [6, 13].
Bên điều chuyển có vai trò quan trọng kết nối giữa Bên khai thác và Bên tạo lập khi áp dụng BIM bởi giữa họ không làm việc trực tiếp cùng nhau mà đều thông qua Bên điều chuyển [3, 4, 7-10].
Do đó, các yêu cầu thông tin mà Bên tạo lập nhận được không chỉ là những yêu cầu thông tin chuyển giao (Exchange Information Requirement - EIR) của Bên khai thác mà có thể gồm cả những yêu cầu thông tin của Bên điều chuyển.
Tất cả các bên liên quan dự án cần thay đổi tư duy với xu hướng chủ động xác định yêu cầu thông tin từ khi bắt đầu mỗi dự án bởi hoạt động đánh giá và xác định nhu cầu để thiết lập các yêu cầu thông tin phù hợp trong giai đoạn chuyển giao [7, 8] lẫn giai đoạn vận hành khai thác [6, 14].
Yêu cầu thông tin và Sản phẩm thông tin được chuyển giao tương ứng với các Mốc chuyển giao thông tin (Information delivery milestone) đã được lên kế hoạch xác định từ trước phù hợp đối với từng dự án.
Tại Hình 1, các mũi tên đi theo hướng vòng tròn nằm bên trái của mũi tên đứng theo chiều đi xuống thể hiện việc Bên khai thác tiến hành kiểm tra thông tin được chuyển giao cho họ bởi Bên điều chuyển.
Thông tin được kiểm tra hoặc một hoặc nhiều lần nhằm xác định mức độ đáp ứng với các yêu cầu đã thỏa thuận của thông tin và kết thúc đánh giá tại bước này của dự án.
Ngược lại, các mũi tên đi theo hướng vòng tròn nằm bên phải của mũi tên đứng theo chiều đi lên thể hiện công tác kiểm tra của Bên điều chuyển đối với thông tin được cung cấp từ Bên khai thác so với những gì cần thiết để bắt đầu giai đoạn tiếp theo của dự án.
Thông tin được hình thành do Bên tạo lập đáp ứng các yêu cầu của Bên khai thác thông qua sự điều phối của Bên điều chuyển nhằm đảm bảo tính nhất quán, tránh xung đột thông tin cũng như đảm bảo yêu cầu lượng vừa đủ thông tin trong yêu cầu lẫn sản phẩm thông tin được hình thành.
Do đó, [3, 4] đề xuất khái niệm Mức độ nhu cầu thông tin (Level of Information Need - LoIN) thay vì khái niệm đặc tả cấp độ phát triển (Level of Development specification - LOD specification).
Nếu như LOD chỉ là mức độ thông tin hình học thì LoIN xác định phạm vi và mức độ chi tiết thông tin không chỉ hình học mà còn cả thông tin chữ số và tài liệu [6] giúp xác định chất lượng, số lượng và mức độ chi tiết của các yêu cầu thông tin.
Bên khai thác xây dựng LoIN cho từng thỏa thuận thông tin và để xác định được LoIN phù hợp hoặc trong điều kiện khả năng hạn chế thì Bên khai thác có thể tìm kiếm sự hỗ trợ từ Bên điều chuyển tiềm năng hoặc một bên thứ ba độc lập.
Căn cứ vào LoIN đã được xác định bởi Bên khai thác, Bên điều chuyển sẽ thiết lập LoIN của họ với độ chi tiết thông tin có thể lớn hơn nhằm hỗ trợ công việc của mình và luôn đảm bảo nguyên tắc LoIN phải được đưa ra ngay từ đầu mỗi thỏa thuận thông tin cũng như không được thay đổi nếu thực sự không cần thiết.
Khi áp dụng BIM, thông tin được tạo lập và được chuyển giao không vượt quá LoIN để tránh lãng phí nguồn lực, nâng cao hiệu quả đầu tư.
2.2. Quy trình quản lý thông tin áp dụng BIM
Trên thế giới tiến trình quản lý thông tin sử dụng BIM trong hoạt động xây dựng được ISO 19650 đề cập đến từ năm 2018 và tại Việt Nam đến cuối năm 2024 cách hiểu về BIM này mới được làm rõ trong TCVN 14177-1:2024, TCVN 14177-2:2024 và Tài liệu hướng dẫn áp dụng TCVN 14177-1:2024 và TCVN 14177-2:2024 được phát hành kèm theo.
BIM trong giai đoạn chuyển giao và trong giai đoạn vận hành khai thác đều được đề cập là tiến trình tổng quát bao gồm nhiều tiến trình thành phần được sắp xếp có trình tự được thể hiện lần lượt tại Hình 2 và Hình 3 với mục đích quản lý thông tin hiệu quả cho từng giai đoạn của dự án thay vì cách hiểu phổ thông và chưa đầy đủ rằng BIM là mô hình 3D vốn đã và đang tồn tại nhiều năm tại Việt Nam.
Tuy nhiên, đến nay Việt Nam mới ban hành tiến trình BIM giai đoạn chuyển giao hay giai đoạn hình thành tài sản được nêu tại TCVN 14177-2:2024.
Do đó, với đối tượng và phạm vi nghiên cứu của bài báo này, tác giả chỉ làm rõ một số nội dung liên quan đến tiến trình BIM giai đoạn chuyển giao.
Đối với một dự án, BIM trong giai đoạn chuyển giao bao gồm 8 tiến trình thành phần. Trong đó, tiến trình 1 - Đánh giá và xác định nhu cầu và tiến trình 8 - Kết thúc được thực hiện ở cấp độ toàn dự án; các tiến trình còn lại từ 2 đến 7 (từ mời thầu đến chuyển giao mô hình thông tin) được thực hiện đối với từng thỏa thuận thông tin của dự án.
Có thể hiểu rằng, khi áp dụng BIM cho một dự án, tiến trình 1 và tiến trình 8 chỉ được thực hiện một lần duy nhất, trong khi các tiến trình còn lại có thể được thực hiện một hoặc nhiều lần, tùy thuộc vào quy mô, tính chất và đặc điểm cụ thể của dự án.
Mô hình thông tin được chuyển giao tại tiến trình 7 (chuyển giao mô hình) của thỏa thuận thông tin liền trước sẽ là đầu vào cho tiến trình 2 (mời thầu) của thỏa thuận thông tin ngay sau đó, chẳng hạn như mô hình thông tin của thỏa thuận thiết kế cơ sở là thông tin đầu vào của thỏa thuận thiết kế triển khai sau thiết kế cơ sở.
Nội dung chi tiết các tiến trình từ 1 đến 8 được giới thiệu tổng quan tại TCVN 14177-2:2024 và chi tiết hóa tại Tài liệu hướng dẫn áp dụng TCVN 14177-1:2024 và TCVN 14177-2:2024, tuy nhiên nội dung đoạn 3 mục “5.3.1 Đề xuất nhân sự làm nhiệm vụ quản lý thông tin” (Hình 4) thuộc tiến trình số 3-Dự thầu là chưa hợp lý.
14177-2:2024 chỉ ra rằng Bên có trách nhiệm trong việc đề cử nhân sự là “Bên đặt hàng” hay chính là Bên khai thác-thuật ngữ do chính tác giả sử dụng trong bài báo này.
Và mặc dù Tiêu chuẩn quốc tế ISO 19650-2:2018 được sử dụng tham khảo khi biên soạn TCVN này cũng với chủ thể tương tự “The appointing party” (Hình 4). Sự đánh giá nội dung chưa hợp lý này được tác giả nhắc đến trong [6] và hoàn toàn phù hợp với khuyến cáo tại ISO 19650 Hướng dẫn 2: Giai đoạn chuyển giao cho mục 5.3.1 Nominate individuals to undertake the information management function của UK BIM Framework [15, 16] (Hình 5).
Đây có thể là lỗi đánh máy khi ghi rằng Bên khai thác thông tin cần xem xét, tuy nhiên việc xem xét này phải là của Bên điều chuyển tiềm năng hay chính là Bên thực hiện chính tiềm năng-thuật ngữ được sử dụng tại TCVN 14177-2:2024 thì mới hợp lý [6, 15].
Bởi lẽ, trong chính nội dung của TCVN 14177-2:2024 và tiêu chuẩn ISO 19650-2:2028 được sử dụng tham khảo, Bên thực hiện chính tiềm năng (Bên điều chuyển-thuật ngữ được tác giả sử dụng trong bài báo này) được xác định ngay từ đoạn 1 và đoạn 2 Mục 5.3.1 nên là Bên có chức năng quản lý thông tin trong tiến trình 3 khi áp dụng BIM thay vì Bên đặt hàng (Bên khai thác theo thuật ngữ được tác giả sử dụng trong bài báo này).
Sự bất hợp lý này thể hiện rõ bởi sự khác nhau về chủ thể được đề cập đến ngay chính trong nội dung mục “5.3.1 Đề cử các nhân sự đảm nhận nhiệm vụ quản lý thông tin” của TCVN 14177-2:2024 cũng như trách nhiệm các Bên được xác định tương ứng với từng tiến trình áp dụng BIM được kể đến trong nhiều tài liệu liên quan khác [15, 17, 18] được thể hiện tại các Hình 6-9.
Tại Hình 21 của Tài liệu hướng dẫn TCVN 14177-1:2024 và TCVN 14177-2:2024 (được thể hiện lại tại Hình 6) cho thấy chỉ có Bên điều chuyển là chủ thể chịu trách nhiệm đối với tiến trình số 3- Dự thầu trong tiến trình BIM của dự án đầu tư xây dựng.
Mối quan hệ trách nhiệm này được thể hiện thông qua logic mã hóa màu sắc gắn với từng Bên khi áp dụng BIM, theo đề xuất của ISO 19650 Guidance 2: Delivery phase và Guidance A: The information management function and resources thuộc UK BIM Framework, thể hiện tại Hình 7.
Cụ thể, màu xanh sáng biểu thị trách nhiệm của Bên khai thác, màu xanh đậm biểu thị trách nhiệm của Bên điều chuyển và màu tím biểu thị trách nhiệm của Bên tạo lập.
Tuy nhiên, Tài liệu hướng dẫn TCVN 14177-1:2024 và TCVN 14177-2:2024 chưa đề cập đến logic mã hóa màu sắc này, do đó có thể gây khó hiểu cho người đọc trong quá trình tham khảo và áp dụng.
Ngoài ra, theo Abanda F.H. và cộng sự [1], chủ thể có trách nhiệm đề xuất cá nhân đảm nhận vai trò quản lý thông tin tại tiến trình 3 chính là Bên điều chuyển tiềm năng (Prospective Lead Appointed Party), nội dung này được thể hiện tại Hình 8.
Bên cạnh đó, Hình 32 của TCVN 14177-2:2024 cũng chỉ ra rõ rằng chủ thể chịu trách nhiệm đối với mục “5.3.1 Đề xuất nhân sự làm nhiệm vụ quản lý thông tin” là Bên thực hiện chính, chứ không phải là Bên đặt hàng, được thể hiện tại Hình 9.
Việc biên soạn và ban hành Tài liệu hướng dẫn TCVN 14177-1:2024 và TCVN 14177-2:2025 là rất cần thiết, có giá trị kịp thời để hướng dẫn cho các chủ thể liên quan hiểu rõ hơn về trách nhiệm, vai trò và nội dung cần thực hiện khi áp dụng BIM, tuy nhiên có những nội dung của tài liệu vẫn còn chưa đầy đủ, chưa phù hợp, cần điều chỉnh.
Hạn chế này có thể xuất phát từ lỗi đánh máy hoặc lỗi biên tập, chẳng hạn như một số điểm chưa tương thích giữa nội dung diễn giải chi tiết các bước của tiến trình 7- Chuyển giao mô hình thông tin (trang 86-88, được thể hiện tại Hình 10 [16]) và nội dung tiến trình này theo khuyến nghị của TCVN 14177-2:2024.
Vì vậy, người đọc cần chú ý hơn khi sử dụng Tài liệu hướng dẫn này trong quá trình tham khảo và vận dụng để đảm bảo hiệu quả áp dụng BIM trong hoạt động xây dựng.
2.3. Môi trường dữ liệu dùng chung
Theo TCVN 14177-1:2024 và TCVN 14177-2:2024, Môi trường dữ liệu dùng chung (Common Data Environment - CDE) là khái niệm được đề cập đến mang tính cấp thiết và bắt buộc khi áp dụng BIM trong hoạt động xây dựng [3, 4, 6-8, 10, 12, 14, 19].
CDE đảm bảo thông tin giữa các bên liên quan đến dự án được nhất quán, minh bạch và duy nhất, tránh xung đột, chồng chéo; cho phép chia sẻ thông tin một cách an toàn và bảo mật từ sớm và thường xuyên, để các Bên có thể sử dụng, đóng góp và nhận xét một cách phù hợp [5, 19].
CDE là sự kết hợp giữa các giải pháp công nghệ (technical solutions) và quy trình làm việc (process workflows) [3-5, 20], trong đó các quy trình làm việc được xem là yếu tố cốt lõi [5] và cần được xác định một cách rõ ràng ngay từ đầu, trước khi tiến hành lựa chọn các giải pháp công nghệ phù hợp nhằm hỗ trợ việc triển khai quy trình một cách hiệu quả [19, 20].
Khẳng định này cho thấy rằng các Bên liên quan trong dự án phải ưu tiên thiết lập và chuẩn hóa quy trình làm việc trong CDE như một cơ sở đầu vào, trên cơ sở đó mới tiến hành lựa chọn đơn vị cung cấp giải pháp công nghệ CDE phù hợp với yêu cầu quản lý thông tin và mục tiêu áp dụng BIM của dự án, qua đó bảo đảm hiệu quả triển khai và hạn chế rủi ro bị dẫn dắt bởi định hướng kinh doanh của nhà cung cấp công nghệ.
Thực tiễn triển khai BIM theo các tiêu chuẩn và hướng dẫn trong nước và quốc tế, mỗi dự án có một CDE dùng chung với tên gọi là CDE dự án và được quản trị bởi Bên khai thác hoặc đại diện Bên khai thác nhằm mục đích để quản lý tất cả các gói thông tin (Information containers - ICs) được phát triển và trao đổi với Bên khai thác trong suốt vòng đời của dự án [7, 8, 12, 20, 21].
Tất cả các Bên phải cùng phối hợp làm việc trên CDE dự án duy nhất và quyền quản lý CDE này cũng duy nhất thuộc về Bên khai thác hoặc đại diện của họ.
Bên cạnh những ưu điểm, CDE dự án duy nhất này cũng có thể gây nên rủi ro cho các Bên còn lại khi họ bị gây khó khăn hoặc bị mất hoàn toàn mọi quyền truy cập và xử lý thông tin trong CDE này mà họ không lưu trữ bất kì thông tin nào được chính họ tạo lập/chuyển giao hoặc đã được xem xét/chấp thuận/phê duyệt bởi Bên điều chuyển/Bên khai thác.
Rủi ro liên quan đến CDE dự án đã xảy ra không chỉ trong nước mà còn cả quốc tế, chẳng hạn như: Tranh chấp phát sinh từ việc Marlon Blackwell Architects, P.A. (MBA) đơn phương bị chấm dứt quyền truy cập CDE dự án Saracen Casino Resort tại Pine Bluff, Arkansas trong khi HBG Design, Inc. (HBG) vẫn tiếp tục sử dụng, chỉnh sửa và phát triển toàn bộ dữ liệu BIM và bản vẽ do MBA tạo lập [22, 23];
Tranh chấp về CDE trong vụ Trant Engineering Limited và Mott MacDonald Limited (MML) phát sinh khi MML, với vai trò tư vấn thiết kế và điều phối BIM, đơn phương chặn quyền truy cập CDE của Trant sau khi xảy ra tranh chấp thanh toán trong dự án xây dựng nhà máy điện cho UK Ministry of Defence tại quần đảo Falkland. Trant cho rằng việc bị cắt quyền truy cập khiến dự án không thể tiếp tục do toàn bộ dữ liệu BIM, thiết kế và hợp đồng đều được lưu trữ trên CDE [22, 24];
Tranh chấp giữa các bên có liên quan đến việc sử dụng giải pháp CDE-Aconex dẫn đến vi phạm về an toàn tại một dự án căn hộ ở Hà Nội, Việt Nam [22, 25];
Tranh chấp dự án điện gió tại Sóc Trăng, Việt Nam giữa chủ đầu tư và nhà thầu khi chủ đầu tư đóng CDE-Procore [22].
Do đó để hạn chế những rủi ro từ CDE dự án duy nhất gây nên, tất cả các Bên của dự án cũng nên phát triển CDE của riêng họ để thuận lợi trong quá trình thực hiện công việc của chính mình và đặc biệt là lưu trữ [10, 12, 15, 20, 26] khi áp dụng BIM. Khi đó, không chỉ quy trình làm việc cho các Bên trong CDE dự án, quy trình làm việc và trao đổi các IC giữa CDE của các Bên cần được thiết lập [26] mà quy trình làm việc và trao đổi các IC có sự kết nối giữa CDE dự án và CDE các Bên cũng cần phải được xây dựng nhằm mục tiêu phát huy tối đa ưu điểm của CDE dự án, của CDE của từng bên cũng như sự gắn kết giữa các CDE này.
Xây dựng quy trình làm việc kết nối CDE dự án với CDE các Bên khi áp dụng BIM cũng chính là định hướng nghiên cứu tiếp theo của tác giả với mục đích tận dụng tối đa tính hữu ích của CDE và hạn chế tối thiểu các tranh chấp không đáng có làm ảnh hưởng hiệu quả đầu tư xây dựng.
3. Kết luận
Việc hiểu đúng và đầy đủ các tiêu chuẩn quốc gia và quốc tế hướng dẫn áp dụng BIM trong hoạt động xây dựng, đặc biệt là TCVN 14177-1:2024, TCVN 14177-2:2024 và ISO 19650, có ý nghĩa then chốt đối với việc triển khai quản lý thông tin hiệu quả.
Trên cơ sở đó, nghiên cứu này đã diễn giải có hệ thống các khái niệm, nguyên tắc và quy trình quản lý thông tin, đồng thời gợi mở một số lưu ý quan trọng và định hướng nghiên cứu tiếp theo liên quan đến CDE khi áp dụng BIM theo TCVN 14177-1:2024 và TCVN 14177-2:2024.
Kết quả nghiên cứu làm rõ ba nội dung chính, bao gồm:
Thứ nhất, một dự án đầu tư xây dựng bao gồm nhiều thỏa thuận thông tin với sự tham gia của Bên khai thác, Bên điều chuyển và Bên tạo lập nhằm hình thành mô hình thông tin phù hợp, với mức độ chi tiết đáp ứng nhu cầu thông tin của Bên khai thác.
Thứ hai, mô hình 3D không đồng nhất với BIM; BIM là một tiến trình tổng hợp gồm nhiều tiến trình thành phần được thực hiện theo trình tự, trong đó mô hình thông tin được tạo lập, kiểm tra, xem xét, phê duyệt và chuyển giao xuyên suốt vòng đời dự án.
Thứ ba, bên cạnh CDE dự án, cần thiết lập CDE cho các bên liên quan, trong đó quy trình làm việc cần được xác định và chuẩn hóa trước khi lựa chọn giải pháp công nghệ CDE nhằm bảo đảm hiệu quả triển khai và hạn chế sự phụ thuộc quá mức vào công nghệ.
Đáng chú ý, nghiên cứu đề xuất Bên điều chuyển tiềm năng là chủ thể quản lý thông tin trong tiến trình 3-Dự thầu khi áp dụng BIM, khác với khuyến nghị hiện hành tại TCVN 14177-2:2024, trên cơ sở các phân tích và minh chứng cụ thể.
Bên cạnh đó, bài báo gợi mở hướng nghiên cứu về việc kết hợp quy trình làm việc giữa CDE dự án và CDE của các bên liên quan nhằm giảm thiểu rủi ro phát sinh từ việc phụ thuộc vào một CDE dự án duy nhất.
Các kết quả này góp phần hỗ trợ các bên tham gia dự án đầu tư xây dựng hiểu rõ hơn về bản chất của BIM, thúc đẩy quá trình chuyển đổi số ngành xây dựng và hướng tới hiệu quả bền vững trong bối cảnh chuyển đổi số ở quy mô quốc gia và toàn cầu.
* Tiêu đề do Tòa soạn đặt - Mời xem file PDF tại đây
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1]. F. H. Abanda, B. Balu, S. E. Adukpo, and A. Akintola, “Decoding ISO 19650 Through Process Modelling for Information Management and Stakeholder Communication in BIM,” Buildings 2025, vol.15, No.431, 2025, DOI: https://doi.org/10.3390/buildings15030431.
[2]. V. Malla, M. Tummalapudi, and V. S. K. Delhi, “Perceptions of Built-Environment Professionals on Using ISO 19650 Standards for Information Management,” Journal of Legal Affairs and Dispute Resolution in Engineering and Construction, vol.16, no.1, 2024, DOI: https://doi.org/10.1061/JLADAH.LADR-1076.
[3]. TCVN 14177-1:2024 Tổ chức và số hóa thông tin về công trình xây dựng, bao gồm mô hình hóa thông tin công trình (BIM). Quản lý thông tin sử dụng mô hình hóa thông tin công trình, Phần 1: Khái niệm và nguyên tắc, V. T. c. c. l. V. Nam, 2024.
[4]. ISO 19650-1:2018 Organization and digitization of information about buildings and civil engineering works, including building information modelling (BIM), Information management using building information modelling, Part 1: Concepts and principles, I. O. f. Standard, 2018.
[5]. U. B. Framework. “ISO 19650 Guidance 1: Concepts.” https://imiframework.org/ (accessed 20/12, 2025).
[6]. V. T. T. Dương, T. Q. Phú, V. L. D. Khánh, T. T. Q. Như, and N. N. Khang, Quản lý thông tin dự án đầu tư xây dựng (Áp dụng BIM theo ISO 19650). NXB Xây dựng, 2023.
[7]. ISO 19650-2:2018 Organization and digitization of information about buildings and civil engineering works, including building information modelling. Information management using building information modelling, Part 2: Delivery phase of the assets, I. O. f. Standard, 2018.
[8]. TCVN 14177-2:2024 Tổ chức và số hóa thông tin về công trình xây dựng, bao gồm mô hình hóa thông tin công trình (BIM). Quản lý thông tin sử dụng mô hình hóa thông tin công trình, Phần 2: Giai đoạn chuyển giao tài sản, V. T. c. c. l. V. Nam, 2024.
[9]. V. T. T. Dương, “Giao diện các bên và các nhóm tham gia khi áp dụng mô hình thông tin công trình theo ISO 19650,” Thông báo khoa học công nghệ Đại học Xây dựng Miền Trung, tập 13, số 02/2024, tr.111-114, 2024.
[10]. V. T. T. Dương, “Quy trình chuyển giao các gói thông tin trong môi trường dữ liệu chung “ Tạp chí Xây dựng, số 08/2024, 2024.
[11]. N. P. Thiện, “Mô hình thông tin công trình (BIM) - Áp dụng cho các dự án tòa nhà tại Việt Nam,” ed, 2022.
[12]. V. T. T. Dương, “Thiết lập môi trường dữ liệu chung cho các bên khi áp dụng BIM,” Tạp chí Xây dựng, 06/2024, tr.130-133, 2024.
[13]. V. L. D. Khánh, V. T. T. Dương, and N. N. Khang, “Các yêu cầu thông tin cần xác định khi áp dụng mô hình thông tin công trình (BIM),” in Hội thảo Khoa học Quốc gia “Những tiến bộ trong Xây dựng, Kiến trúc, Kinh tế và Công nghệ năm 2024”, Phú Yên, 2024: NXB Xây dựng, tr.739-744.
[14]. ISO 19650-3:2020 Organization and digitization of information about buildings and civil engineering works, including building information modelling - Information management using building information modelling - Part 3: Operational phase of the assets, I. O. f. Standard, 2020.
[15]. U. B. Framework. “ISO 19650 Guidance 2: Delivery phase.” https://imiframework.org/ (accessed 20/12, 2025).
[16]. V. T. T. Dương, “Giới thiệu tổng quan một số TCVN hỗ trợ áp dụng BIM trong hoạt động xây dựng (TCVN 14177-1:2024, TCVN 14177-2:2024 và TCVN 14176-2:2024) “ in Kinh tế xanh - Kinh tế số 2025 (Phần 3 - Xây dựng xanh - Xây dựng số), Phú Yên, 21/5/2025.
[17]. U. B. Framework. “Guidance A: The information management function and resources.” https://imiframework.org/ (accessed 20/12, 2025).
[18]. T. C. t. T. v. x. d. V. Nam, Tài liệu hướng dẫn áp dụng TCVN tổ chức và số hóa thông tin về công trình xây dựng, bao gồm mô hình hóa thông tin công trình (BIM) - quản lý thông tin sử dụng mô hình hóa thông tin công trình Phần 1: khái niệm và nguyên tắc Phần 2: giai đoạn chuyển giao tài sản. 2024.
[19]. V. T. T. Dương, V. L. D. Khánh, T. Q. Phú, T. T. Q. Như, and N. N. Khang, “Môi trường dữ liệu chung theo ISO 19650,” Tạp chí Xây dựng, số 10/2023, tr.108-112, 2023.
[20]. U. B. Framework. “ISO 19650 Guidance C: Facilitating the CDE (workflow and technical solutions).” https://imiframework.org/ (accessed 20/12, 2025).
[21]. Bộ Xây dựng - Viện Kinh tế xây dựng. Tài liệu phục vụ đào tạo, bồi dưỡng kiến thức áp dụng Mô hình thông tin công trình (BIM). Công bố theo Quyết định số 66/QĐ-BCĐBIM ngày 06/04/2021.
[22]. N. N. Trung, “Chia sẻ về một số tranh chấp xây dựng trong trong nước và quốc tế khi các bên cùng làm việc trong môi trường dữ liệu dùng chung,” in Môi trường dữ liệu dùng chung (CDE) khi áp dụng Mô hình thông tin công trình (BIM) trong hoạt động xây dựng, Phú Yên, 16/10/2024.
[23]. “Marlon Blackwell Architects, P.A. v. HBG Design, Inc., et al.,” ed: U.S. District Court for the Eastern District of Arkansas, 2019.
[24]. “Trant Engineering Ltd v. Mott MacDonald Ltd,” ed: Technology and Construction Court, England, 2017.
[25]. “Quyết định giám đốc thẩm số 15/2016/KDTM-GĐT ngày 07/9/2016 về tranh chấp hợp đồng xây dựng,” in Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ed: Tòa án nhân dân tối cao, 2016.
[26]. V. T. T. Dương, “Quy trình chuyển giao các gói thông tin giữa CDE các bên,” in Môi trường dữ liệu dùng chung (CDE) khi áp dụng Mô hình thông tin công trình (BIM) trong hoạt động xây dựng, Phú Yên, 16/10/2024. 2024.

Trên cơ sở phân tích và tổng hợp lý thuyết, bài báo hệ thống hóa các lưu ý trọng tâm của hai tiêu chuẩn, đồng thời đề xuất các giải pháp liên quan đến vai trò của các Bên và quy trình làm việc trong môi trường dữ liệu chung (CDE). Những kết quả này nhằm hỗ trợ việc áp dụng BIM một cách thiết thực và hiệu quả trong lĩnh vực xây dựng tại Việt Nam. 

