Những vấn đề đặt ra với công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam

Nội dung bài viết sẽ làm rõ những vấn đề đặt ra với công nghiệp, hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay và những giải pháp cho các vấn đề này.

Tiến hành công nghiệp hóa (CNH), hiện đại hóa (HĐH) để đưa đất nước trở nên thịnh vượng, văn minh, gia nhập nhóm các quốc gia công nghiệp phát triển là xu thế chung của các nước trên thế giới và là khát vọng của nhiều nước đang phát triển trong nhiều thập niên qua.

Ở Việt Nam, công cuộc CNH đã được nêu ra như một nhiệm vụ trung tâm từ Đại hội lần thứ III của Đảng (năm 1960) và tiếp tục khẳng định cụ thể hơn qua các kỳ Đại hội. Trải qua gần 60 năm thực hiện CNH, đến nay Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, nhưng CNH vẫn chưa hoàn thành. Thế giới đang bắt đầu cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Vậy những vấn đề đặt ra với CNH, HĐH ở Việt Nam hiện nay là gì? Những giải pháp cho các vấn đề này là nội dung bài viết sẽ được làm rõ.

1. Quan niệm về CNH và HĐH

Lịch sử CNH trên thế giới đã trải qua hàng trăm năm. Vào giữa thế kỷ XVIII, một số nước phương Tây, mở đầu là nước Anh đã tiến hành cuộc cách mạng công nghiệp, với nội dung chủ yếu là chuyển từ lao động thủ công sang lao động cơ khí.

Đây là mốc đánh dấu sự khởi đầu cho tiến trình CNH của thế giới. Tuy vậy, phải đến thế kỷ XIX, khái niệm CNH mới được dùng để thay thế cho khái niệm cách mạng công nghiệp, mặc dù sau cách mạng công nghiệp ở Anh, một thế hệ CNH đã diễn ra ở các nước Tây Âu, Bắc Mỹ và Nhật Bản.

Có thể khái quát, CNH là quá trình tạo ra sự chuyển biến từ nền kinh tế nông nghiệp với nền kinh tế lạc hậu, dựa trên lao động thủ công, năng suất thấp sang nền kinh tế công nghiệp với cơ cấu kinh tế công nghiệp hiện đại, dựa trên lao động sử dụng bằng máy móc, tạo ra năng suất lao động cao.

Như vậy, công nghiệp hóa là quá trình biến một nước có nền kinh tế lạc hậu thành nước công nghiệp hiện đại với trình độ công nghệ, kỹ thuật tiên tiến, có năng suất lao động cao trong các ngành kinh tế quốc dân. Hiện đại hóa là quá trình tận dụng mọi khả năng để đạt trình độ công nghệ ngày càng tiên tiến, hiện đại.

2. Thực hiện CNH, HĐH rút ngắn gắn với phát triển kinh tế tri thức và kinh tế số ở Việt Nam là con đường tối ưu nhất

Khái niệm kinh tế tri thức: Hiện nay còn có những tên gọi và những định nghĩa khác nhau về kinh tế tri thức. Theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD), “kinh tế tri thức là nền kinh tế dựa trực tiếp vào việc sản xuất, phân phối và sử dụng tri thức, thông tin”(2).

Trong nền kinh tế nông nghiệp, dựa chủ yếu vào lao động và tài nguyên thiên nhiên. Nền kinh tế công nghiệp, dựa chủ yếu vào máy móc, lao động và tài nguyên thiên nhiên. Trong nền kinh tế tri thức, tri thức đóng vai trò quyết định hàng đầu. Kinh tế tri thức là nền kinh tế được phát triển chủ yếu dựa vào tri thức và công nghệ hiện đại. Kinh tế tri thức đánh dấu giai đoạn phát triển cao của lực lượng sản xuất, cao hơn so với các nền kinh tế trước đó là kinh tế nông nghiệp và kinh tế công nghiệp.

Chính sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và công nghệ hiện đại, nhất là sự phát triển nhanh mang tính đột phá của công nghệ thông tin càng thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển mạnh mẽ. Tất yếu nền kinh tế tri thức ra đời và phát triển.

Thông qua mạng internet siêu tốc và các phương tiện thông tin hiện đại, những tri thức khoa học được truyền bá rất nhanh, tạo ra sự bứt phá  về năng suất lao động và tăng trưởng kinh tế.

Khái niệm kinh tế số: Kinh tế số là hoạt động kinh tế sử dụng công nghệ số và dữ liệu số làm yếu tố đầu vào chính, sử dụng môi trường số làm không gian hoạt động chính, sử dụng công nghệ thông tin - viễn thông để tăng năng suất lao động, đổi mới mô hình kinh doanh và tối ưu hóa cấu trúc nền kinh tế.

Các công nghệ số hóa (điển hình là internet vạn vật, trí tuệ nhân tạo, điện toán đám mây,…) và kinh tế số đã tạo ra sự thay đổi mang tính cách mạng trong nền kinh tế: từ sản xuất, phân phối, cung ứng dịch vụ cho đến tiêu dùng với tốc độ và quy mô chưa từng có. Phát triển kinh tế số trở thành xu thế tất yếu trên con đường HĐH của mọi quốc gia.

Trong lịch sử, các nước đi trước tiến hành CNH đã thành công theo xu thế rút ngắn thời gian hoàn thành. Các nước Anh, Pháp, Đức, Mỹ mất khoảng gần 100 năm, Nhật Bản khoảng 60 năm. Kể từ đầu những năm 1970, do tác động của tiến bộ khoa học và công nghệ, nhờ biết khai thác “lợi thế nước đi sau”, một số nước và vùng lãnh thổ như Singapore, Hàn Quốc, Đài Loan (Trung Quốc) đã  thành công và chỉ mất khoảng 30 năm hoàn thành CNH.

Thế giới đã và đang diễn ra 4 cuộc cách mạng công nghiệp. Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất dựa vào động cơ hơi nước để tiến hành cơ khí hóa (cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX). Cuộc cách mạng lần thứ hai dựa vào năng lượng điện để phát triển điện khí hóa và sản xuất hàng loạt (cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX). Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ ba với sự xuất hiện máy tính, điện tử, công nghệ thông tin, cách mạng số hóa đã phát triển sản xuất tự động hóa (từ thập kỷ 70 của thế kỷ XX). Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư nhờ các đột phá của công nghệ số đã và đang phát triển sản xuất thông minh (bắt đầu từ năm 2000). Cuộc cách mạng này còn gọi là cuộc cách mạng số.

Ảnh minh họa.

Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư tác động, thúc đẩy nền kinh tế số phát triển. Không chỉ là sự tăng trưởng của các ngành kinh tế nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ truyền thông, mà còn thúc đẩy tăng trưởng của các ngành công nghiệp sáng tạo. Kinh tế số thúc đẩy mạnh mẽ tăng trưởng thương mại toàn cầu và toàn cầu hóa kinh tế.

Việt Nam đang trong quá trình CNH đất nước. Trong khi nhiều nước đã hoàn thành CNH, đang tiến hành HĐH nền kinh tế, bước vào nền kinh tế tri thức và kinh tế số. Để thoát khỏi tình trạng lạc hậu, ngày càng tụt hậu xa hơn các nước trong khu vực và trên thế giới, Việt Nam phải khai thác lợi thế của nước đi sau nhằm rút ngắn thời gian CNH. Việt Nam đồng thời thực hiện một quá trình “lồng nghép” cả 3 tiến trình: (1) Đó là đẩy mạnh CNH; (2) HĐH đất nước; (3) Gắn với phát triển kinh tế tri thức và kinh tế số.

Vì thế, đẩy mạnh CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức và kinh tế số là sự lựa chọn tối ưu để Việt Nam thực hiện CNH rút ngắn.

Trong điều kiện của Việt Nam, tại Hội nghị lần thứ 7, BCHTW khóa VII,  Đảng ta xác định: “CNH, HĐH là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế - xã hội từ sử dụng lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động cùng với công nghệ, phương tiện, phương pháp tiên tiến, hiện đại dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học - công nghệ, tạo ra năng suất lao động xã hội cao”.

Nghị quyết số 29-NQ/TW, ngày 17/11/2022, Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Nghị quyết đã làm rõ nội hàm/nhận thức về CNH, HĐH trong bối cảnh thế giới đang diễn ra cuộc cách mạng 4.0

“CNH, HĐH đất nước là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện nền kinh tế và đời sống xã hội, dựa chủ yếu vào sự phát triển của công nghiệp và dịch vụ trên nền tảng khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo;”

3. Những thành tựu và khó khăn

Thực hiện CNH theo hướng hiện đại trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, Việt Nam cũng đạt được những thành tựu to lớn nhưng vẫn còn nhiều khó khăn.

Những thành tựu

Ngành công nghiệp thông tin, viễn thông có bước phát triển vượt bậc, tốc độ tăng trưởng bình quân hơn 20%/năm trong 10 năm qua; hiện nay có hơn 28.000 công ty công nghệ thông tin với hơn 900.000 lao động. Có hệ thống gần 1 triệu km cáp quang ở khắp 63/63 tỉnh, thành phố, mạng internet di động 3G, 4G đã phủ sóng tới 99% dân số…

Công nghệ gen, công nghệ tế bào đã được ứng dụng trong ngành nông nghiệp, ngành y tế và rất thành công. Ngành y tế đã và đang phát triển nhanh về công nghệ ghép tạng, thụ tinh trong ống nghiệm…

Ngành dầu khí làm chủ được nhiều công nghệ thăm dò, khai thác, công nghệ chế biến dầu khí tiên tiến; ngành điện tiếp thu, làm chủ được nhiều công nghệ tiên tiến trong phát triển thủy điện, nhiệt điện than, khí, điện gió, điện mặt trời.

Tỷ trọng giá trị xuất khẩu sản phẩm công nghệ cao trong tổng giá trị xuất khẩu hàng hóa tăng từ 19% năm 2010 lên khoảng 50% năm 2020. Chỉ số đổi mới sáng tạo của Việt Nam trong những năm gần đây liên tục tăng vượt bậc, năm 2020 xếp thứ 42/131 quốc gia, dẫn đầu nhóm quốc gia có cùng mức thu nhập và đứng thứ 3 trong khu vực Đông Nam Á (sau Singapore và Malaysia).

Những khó khăn

- Nền công nghiệp có bước phát triển, nhưng quy mô còn nhỏ, trình độ còn thấp. Sản xuất công nghiệp chủ yếu là gia công, lắp ráp, giá trị gia tăng thấp; trình độ công nghệ còn lạc hậu, phần lớn là của thời kỳ cách mạng công nghệ 2.0, chậm được đổi mới;

- Năng suất lao động chưa bằng 1/5 của Singapore, 1/3 của Thái Lan, ½ của Philippines; năng lực cạnh tranh, khả năng tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu rất hạn chế.

- Các sản phẩm công nghệ cao, như điện thoại di động, máy tính, các linh kiện, thiết bị điện tử phần lớn là do các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sản xuất.

- Công nghệ thông tin, viễn thông phát triển nhanh nhưng chủ yếu là nhập khẩu thiết bị để kinh doanh dịch vụ phục vụ người tiêu dùng. Công nghiệp phần mềm khá phát triển cũng chỉ là gia công cho nước ngoài.

- Hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước thấp, nhiều dự án lớn thua lỗ. Doanh nghiệp tư nhân tuyệt đại bộ phận là doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ, vốn ít, việc kinh doanh dựa nhiều vào vốn ngân hàng; thị trường chứng khoán chưa phát triển, chưa trở thành kênh huy động vốn dài hạn cho doanh nghiệp. Doanh nghiệp FDI chưa gắn kết chặt chẽ với doanh nghiệp trong nước, nhiều doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực gia công, lắp ráp, trình độ công nghệ trung bình để tận dụng lao động giá rẻ của Việt Nam.

4. Một số vấn đề dặt ra đối với CNH theo hướng hiện đại ở nước ta hiện nay

- Về nhận thức: Cách mạng công nghiệp lần thứ tư sẽ diễn ra với tốc độ rất nhanh, quy mô rất lớn, tạo ra những thay đổi sâu rộng trong mọi lĩnh vực; vì vậy, nếu bỏ lỡ, không tận dụng được thời cơ này thì sẽ ngày càng tụt hậu xa hơn tụt so với các nước. Đây là vấn đề cần phải nhận thức sâu sắc, quyết tâm thực hiện cho bằng được việc nắm bắt thời cơ này, phải xem đây là vấn đề hàng đầu đối với đất nước hiện nay.

- Về nội dung CNH: Trong nhiều năm qua, Đảng và nhà nước đã từng bước có những điều chỉnh, bổ sung, phát triển về nội dung CNH. Hiện nay là CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức và kinh tế số. Tuy nhiên, đến nay, CNH, HĐH ở nước ta vẫn cơ bản là mô hình phát triển kinh tế theo chiều rộng; kinh tế phát triển chủ yếu dựa vào khai thác tài nguyên và lao động giá rẻ, trình độ thấp; tăng trưởng kinh tế nhờ tăng sử dụng các yếu tố đầu vào; trình độ công nghệ thấp; cơ cấu lạc hậu.

- Về phát triển khoa học công nghệ, giáo dục đào tạo, nâng cao năng lực sáng tạo, chất lượng nguồn nhân lực. Đây là những yếu tố then chốt, tạo ra sự phát triển đột phá cho nền kinh tế tri thức - thông minh. Có thể thấy, hiện nay, nguồn nhân lực chất lượng cao cùng với khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo trở thành yếu tố đầu vào quan trọng nhất của lực lượng sản xuất hiện đại, là “chìa khóa” quyết định tốc độ và chất lượng phát triển của các quốc gia và nền kinh tế. Tuy nhiên hiện nay, ở nước ta, khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo chưa thực sự trở thành động lực và nền tảng cho phát triển kinh tế - xã hội, cho tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế và tăng năng suất lao động xã hội.

5. Một số giải pháp cho những vấn đề đang đặt ra hiện nay

- Trước hết, phải định hướng lại chính sách (hay chiến lược) CNH, vừa phát triển theo chiều rộng; phát triển nông, lâm, ngư nghiệp và các ngành công nghiệp sử dụng nhiều lao động, như dệt may, giày da; nhưng, đặc biệt là phải chuyển mạnh sang phát triển theo chiều sâu dựa trên khoa học công nghệ, nguồn nhân lực chất lượng cao để nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh.

- Cần phải định hướng tất cả các ngành, lĩnh vực kinh tế phải từng bước chuyển từ trình độ công nghệ hiện nay sang tự động hóa, tiến tới thông minh hóa, nông nghiệp thông minh, công nghiệp thông minh, dịch vụ vận tải thông minh, ngân hàng thông minh…

- Đổi mới cơ cấu kinh tế, nhất là cơ cấu công nghiệp, phù hợp với xu hướng phát triển của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Phát triển công nghiệp hỗ trợ, sản xuất các linh kiện, phụ từng, thiết bị được tiêu chuẩn hóa có thể được sử dụng vào nhiều loại máy móc, thiết bị ở nhiều ngành công nghiệp, đồng thời tăng cường liên kết, hợp tác giữa các ngành, lĩnh vực; mở rộng khả năng, cơ hội để các doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu, có giá trị lớn, có vị trí vững chắc trong chuỗi giá trị toàn cầu.

- Phát triển các cụm ngành công nghiệp bao gồm các doanh nghiệp có quan hệ chặt chẽ với nhau về công nghệ, về sản phẩm chế tạo. Trong đó, có doanh nghiệp sản xuất sản phẩm cuối cùng giữ vai trò trọng tâm, các doanh nghiệp cung cấp các sản phẩm hàng hóa, dịch vụ trước và sau cho doanh nghiệp sản xuất sản phẩm cuối cùng.

- Cần tăng cường đầu tư của toàn xã hội, của nhà nước, của các doanh nghiệp, các tổ chức trong và ngoài nước cho phát triển khoa học công nghệ; đổi mới phương thức quản lý hoạt động khoa học công nghệ; thực hiện quyền tự chủ đầy đủ cho các tổ chức nghiên cứu, ứng dụng, chuyển giao tiến bộ khoa học công nghệ.

- Đổi mới mô hình tổ chức, quản lý, chương trình, phương pháp giáo dục đào tạo, ở tất cả các cấp học, ngành học theo chuẩn mực quốc tế, cung cấp nguồn lao động chất lượng cao, có kỹ năng và năng lực sáng tạo, đáp ứng yêu cầu CNH  đất nước trong cách mạng công nghiệp lần thứ tư.

Kết luận

Quá trình CNH, HĐH ở Việt Nam đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển với các đặc điểm khác nhau. Sau gần 30 năm đổi mới, Việt Nam đã thu được những thành tựu to lớn, góp phần quan trọng đưa nền kinh tế đạt tốc độ tăng trưởng khá, thúc đẩy công tác xóa đói giảm nghèo.

Tuy nhiên, bên cạnh những thành công đã đạt được, quá trình thực hiện CNH, HĐH thời gian qua cũng đang bộc lộ những hạn chế, đó là: Tốc độ tăng trưởng kinh tế vẫn thấp so với tiềm năng, cơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm, năng lực cạnh tranh của nền kinh tế còn thấp so với nhiều nước trong khu vực và chậm được cải thiện, chất lượng nguồn nhân lực còn thấp, hệ thống HTCS còn chậm phát triển.

Để thực hiện có kết quả mục tiêu, định hướng về CNH, HĐH đã được xác định, Việt Nam cần có những giải pháp đồng bộ, trong đó phải thực hiện quyết liệt quá trình chuyển đổi mô hình kinh tế; nâng cao hiệu quả huy động, phát triển nguồn lực, đẩy mạnh thu hút nguồn lực trong xã hội cho đầu tư phát triển, chú trọng quá trình tái cơ cấu nền kinh tế, góp phần phát huy lợi thế cạnh tranh trên các cấp độ quốc gia, địa phương, ngành và sản phẩm; tăng cường hiệu quả phân bổ, sử dụng nguồn lực, trong đó, nâng cao vai trò định hướng của nguồn lực tài chính nhà nước trong đầu tư phát triển kinh tế - xã hội gắn với thu hút đầu tư của khu vực tư nhân, tạo cơ chế tài chính để các địa phương thu hút các nguồn lực cho phát triển; hình thành các chính sách phù hợp để thúc đẩy sự phát triển của các yếu tố tiền đề CNH, HĐH.

Tài liệu tham khảo

1.  Văn kiện Hội nghị lần thứ 7, BCHTW khóa VII

2. Nghị quyết số 29-NQ/TW, ngày 17/11/2022, Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045

Bình luận
Nhà ở xã hội SUNRISE HOME Ngọc Hồi