Bộ Xây dựng đang hoàn thiện dự thảo Nghị định quy định một số nội dung và sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định trong lĩnh vực hạ tầng kỹ thuật thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ.
Sửa đổi, bổ sung 6 nghị định
Dự thảo gồm 8 chương, 66 điều. Chương I, từ Điều 1 đến Điều 8, quy định chung về quản lý, phát triển đồng bộ hệ thống công trình hạ tầng kỹ thuật; phân công, phân cấp quản lý; khai thác, sử dụng, bảo vệ công trình và xây dựng cơ sở dữ liệu hạ tầng kỹ thuật.
Từ Chương II đến Chương VII, gồm Điều 9 đến Điều 63, sửa đổi, bổ sung 6 nghị định chuyên ngành. Chương VIII, từ Điều 64 đến Điều 66, quy định hiệu lực thi hành và tổ chức thực hiện.
Sáu nghị định được sửa đổi, bổ sung gồm: Nghị định số 79/2009/NĐ-CP về quản lý chiếu sáng đô thị; Nghị định số 72/2012/NĐ-CP về quản lý và sử dụng chung công trình hạ tầng kỹ thuật; Nghị định số 23/2016/NĐ-CP về xây dựng, quản lý, sử dụng nghĩa trang và cơ sở hỏa táng; Nghị định số 117/2007/NĐ-CP về sản xuất, cung cấp và tiêu thụ nước sạch; Nghị định số 80/2014/NĐ-CP về thoát nước và xử lý nước thải; Nghị định số 39/2010/NĐ-CP về quản lý không gian xây dựng ngầm đô thị.
Dự thảo không thay đổi phạm vi điều chỉnh của 6 nghị định này. Công viên, cây xanh và mặt nước không thuộc nhóm sửa đổi do Chính phủ đã ban hành Nghị định số 258/2025/NĐ-CP thay thế Nghị định số 64/2010/NĐ-CP về quản lý cây xanh đô thị.
Cấp xã quản lý hệ thống trên địa bàn, cấp tỉnh quản lý công trình lớn
Một nội dung chính của dự thảo là phân định thẩm quyền quản lý hạ tầng kỹ thuật theo mô hình chính quyền địa phương 2 cấp. UBND cấp xã được giao thẩm quyền cho phép thực hiện chiếu sáng quảng cáo, trang trí và lễ hội trên địa bàn. Cấp xã đại diện chủ sở hữu hệ thống chiếu sáng công cộng, hệ thống công trình hạ tầng kỹ thuật sử dụng chung và hệ thống thoát nước do Nhà nước đầu tư theo phân cấp.
UBND cấp xã cũng trực tiếp làm chủ đầu tư hệ thống thoát nước tại khu dân cư nông thôn sử dụng vốn ngân sách. Đối với dịch vụ cấp nước, cấp xã ký thỏa thuận khi công trình nằm trong phạm vi một đơn vị hành chính cấp xã.
UBND cấp tỉnh đại diện chủ sở hữu đối với các hệ thống hạ tầng kỹ thuật lớn, có tính chất liên vùng hoặc thuộc trục chính. Cấp tỉnh ký thỏa thuận thực hiện dịch vụ cấp nước khi phạm vi công trình nằm trên địa giới từ hai đơn vị hành chính cấp xã trở lên.
Dự thảo giao UBND cấp tỉnh thống nhất quản lý không gian xây dựng ngầm đô thị trên địa bàn; chủ trì lựa chọn đơn vị cấp nước đối với cả công trình có phạm vi cấp nước quy mô vùng liên tỉnh, tại địa phương có nhà máy hoặc trạm bơm. UBND cấp tỉnh phê duyệt kế hoạch đầu tư phát triển thoát nước của địa phương do Sở Xây dựng lập.
Cùng với phân cấp, Chương I bổ sung nguyên tắc quản lý và phát triển đồng bộ hệ thống công trình hạ tầng kỹ thuật chuyên ngành theo tuyến và không theo tuyến. Dự thảo làm rõ yêu cầu đối với quy trình vận hành, khai thác, sử dụng và bảo vệ công trình theo khoản 2, khoản 3 Điều 66 Luật Xây dựng số 135/2025/QH15.
Một khung pháp lý chung về cơ sở dữ liệu hạ tầng kỹ thuật cũng được đề xuất, theo hướng xây dựng hệ thống thống nhất từ Trung ương đến địa phương. Đây là cơ sở để quản lý công trình bằng dữ liệu, chia sẻ thông tin giữa các cơ quan và hạn chế đầu tư trùng lặp các hệ thống dữ liệu.
Đối với chiếu sáng đô thị, dự thảo bổ sung các khái niệm “chiếu sáng thông minh”, “hệ thống chiếu sáng công cộng thông minh” và “hệ thống chiếu sáng công cộng đô thị do Nhà nước đầu tư, quản lý”. Hệ thống chiếu sáng công cộng khi thiết kế phải có khả năng kết nối, tích hợp với nền tảng dữ liệu đô thị thông minh. Đơn vị quản lý, vận hành hệ thống được lựa chọn thông qua hợp đồng cung cấp sản phẩm, dịch vụ công.
Trong lĩnh vực sử dụng chung công trình hạ tầng kỹ thuật, dự thảo bổ sung quy định đối với công trình do cơ quan, doanh nghiệp nhà nước sở hữu, trực tiếp phục vụ nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, bảo vệ trật tự, an toàn xã hội. Nội dung này nhằm thể chế hóa quy định tạm thời tại Nghị quyết số 66.10/2025/NQ-CP ngày 15/12/2025 của Chính phủ.
Dự thảo cũng bổ sung cơ chế và nguyên tắc kiểm soát giá thuê công trình hạ tầng kỹ thuật sử dụng chung thuộc sở hữu nhà nước.
Bổ sung yêu cầu an toàn cấp nước, thoát nước và hỏa táng
Đối với lĩnh vực cấp nước, dự thảo quy định căn cứ điều chỉnh vùng phục vụ cấp nước; liên kết và phát triển mạng lưới truyền tải giữa công trình cấp nước tập trung với công trình cấp nước phân tán.
Một điều riêng được bổ sung để quy định nguyên tắc vận hành ổn định, giảm thất thoát nước, ứng dụng công nghệ số trong quản lý tài sản công và tổ chức vận hành trong tình thế cấp thiết.
Dự thảo bổ sung yêu cầu bảo đảm an ninh, an toàn cấp nước; lập kế hoạch cấp nước an toàn và quy trình xây dựng danh mục công trình cấp nước sinh hoạt đặc biệt quan trọng. Đây là nhóm quy định nhằm xử lý các vướng mắc về quản lý dịch vụ, rủi ro và an toàn nguồn nước được nêu trong quá trình tổng kết thực tiễn.
Trong lĩnh vực thoát nước và xử lý nước thải, dự thảo bổ sung phương thức đặt hàng để lựa chọn đơn vị thoát nước trong một số trường hợp đặc thù. Các trường hợp này liên quan đến yêu cầu bảo đảm quốc phòng, an ninh, trật tự hoặc hệ thống mới xây dựng đang hoàn thiện thủ tục bàn giao. Thời gian áp dụng đối với hệ thống đang chờ bàn giao không quá 12 tháng.
Dự thảo bổ sung một điều về quản lý thoát nước an toàn và phòng, chống ngập úng đô thị. Việc quản lý được thực hiện theo phương pháp quản lý rủi ro và tích hợp vào quy trình vận hành hệ thống thoát nước.
Đối với nghĩa trang và cơ sở hỏa táng, dự thảo bổ sung khái niệm “công trình lưu giữ tro cốt” và “ô lưu giữ tro cốt”. Thể tích tối đa của một ô lưu giữ tro cốt được quy định không quá 0,125 m³. Dự thảo quy định việc quản lý, vận hành, lưu giữ tro cốt lâu dài hoặc tạm thời tại nghĩa trang và cơ sở hỏa táng ngoài nghĩa trang; bổ sung yêu cầu bảo đảm an ninh, an toàn trong hoạt động hỏa táng.
Quy định về diện tích đất tối đa cho phần mộ cá nhân cũng được chỉnh lý. Cách tính diện tích sẽ loại trừ đường nội bộ, cây xanh, hạ tầng dùng chung và công trình phụ trợ. Nội dung “đánh giá môi trường chiến lược” trong quy hoạch chi tiết nghĩa trang, cơ sở hỏa táng được thay bằng “giải pháp bảo vệ môi trường” để thống nhất với pháp luật hiện hành.
Về thủ tục hành chính, dự thảo điều chỉnh cơ chế quản lý giá dịch vụ nghĩa trang, cơ sở hỏa táng đầu tư bằng nguồn vốn ngoài ngân sách. Thay vì UBND cấp tỉnh “chấp thuận” phương án giá, cơ quan chuyên môn sẽ “cho ý kiến về sự phù hợp của phương án giá”. Chủ đầu tư tự chủ và tự chịu trách nhiệm về phương án giá.
Dự thảo đồng thời bãi bỏ các quy định đã hết đối tượng áp dụng hoặc trùng với pháp luật khác. Trong đó có quy định về chính quyền đô thị tại Nghị định số 79/2009/NĐ-CP; Điều 64 Nghị định số 117/2007/NĐ-CP về chuyển tiếp tài sản từ năm 2007; điểm b khoản 3 Điều 20 Nghị định số 23/2016/NĐ-CP về thẩm định công nghệ hỏa táng lần đầu áp dụng tại Việt Nam; Điều 25 Nghị định số 23/2016/NĐ-CP về quản lý chi phí quy hoạch, xây dựng nghĩa trang riêng.
Các thuật ngữ “quy hoạch đô thị”, “quy hoạch xây dựng”, “quy hoạch chuyên ngành” trong các nghị định hiện hành được thay bằng “quy hoạch đô thị và nông thôn”. Dự thảo cũng cập nhật tên gọi, thẩm quyền của các cơ quan sau sắp xếp bộ máy và làm cơ sở thay thế Thông tư liên tịch số 21/2013/TTLT-BXD-BCT-BTTTT.
Theo Tờ trình, việc thi hành nghị định không thành lập tổ chức mới, không tăng biên chế và không phát sinh nhiệm vụ chi mới từ ngân sách nhà nước. Kinh phí thực hiện được bố trí trong dự toán chi thường xuyên hằng năm và các nguồn hợp pháp khác. Việc xây dựng cơ sở dữ liệu hạ tầng kỹ thuật sẽ được lồng ghép với các chương trình, đề án và nền tảng số đang triển khai.
Bộ Xây dựng dự kiến trình Chính phủ dự thảo Nghị định trong tháng 12/2026.

Dự thảo Nghị định phân định rõ thẩm quyền quản lý hạ tầng kỹ thuật giữa cấp tỉnh và cấp xã, từ chiếu sáng, cấp nước, thoát nước đến công trình sử dụng chung và không gian xây dựng ngầm đô thị. 

