Phát triển 6 sản phẩm công nghệ chiến lược để làm chủ công nghệ lõi

06:12 01/01/2026
Chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia vừa được phê duyệt đặt trọng tâm vào mục tiêu đến năm 2030 làm chủ công nghệ và đưa vào ứng dụng 6 sản phẩm công nghệ chiến lược.
Phát triển 6 sản phẩm công nghệ chiến lược để làm chủ công nghệ lõi
Phát triển và làm chủ công nghệ lõi của trí tuệ nhân tạo là nền tảng để hình thành các sản phẩm công nghệ chiến lược, góp phần giảm phụ thuộc nhập khẩu và nâng cao năng lực tự chủ công nghệ. Ảnh minh hoạ, nguồn: ITN.

Định hướng chiến lược và mục tiêu cốt lõi của Chương trình

Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Chí Dũng ký Quyết định số 2815/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia phát triển sản phẩm công nghệ chiến lược ưu tiên triển khai ngay. Trọng tâm của Chương trình là hình thành năng lực làm chủ công nghệ ở cấp độ quốc gia, gắn nghiên cứu với sản xuất, thị trường và năng lực cạnh tranh quốc tế, thay vì dừng lại ở kết quả nghiên cứu thuần túy.

Mục tiêu tổng quát của Chương trình là nghiên cứu, phát triển và làm chủ các công nghệ lõi, công nghệ chiến lược và sản phẩm công nghệ chiến lược có tỷ lệ nội địa hóa và giá trị gia tăng cao, đủ năng lực thay thế nhập khẩu và tham gia xuất khẩu. Đây không chỉ là mục tiêu kinh tế, mà còn là yêu cầu về bảo đảm quốc phòng, an ninh và tự chủ công nghệ quốc gia trong bối cảnh cạnh tranh công nghệ toàn cầu ngày càng gay gắt và rủi ro đứt gãy chuỗi cung ứng ngày càng hiện hữu.

Một điểm nhấn quan trọng là đến năm 2030, Chương trình đặt mục tiêu làm chủ công nghệ và đưa vào ứng dụng 6 sản phẩm công nghệ chiến lược, bao trùm các lĩnh vực then chốt của kinh tế số và công nghiệp công nghệ cao. Việc lựa chọn mô hình ngôn ngữ lớn tiếng Việt, AI xử lý tại biên, robot tự hành, 5G, blockchain và thiết bị bay không người lái cho thấy định hướng rất rõ: ưu tiên các nền tảng công nghệ có tính lan tỏa cao, có khả năng hình thành hệ sinh thái và kéo theo sự phát triển của nhiều ngành, lĩnh vực khác.

Không dừng ở việc tạo ra sản phẩm cuối cùng, Chương trình nhấn mạnh yêu cầu làm chủ công nghệ thiết kế, tích hợp, chế tạo, thử nghiệm và triển khai, tức là làm chủ toàn bộ chuỗi giá trị công nghệ. Các chỉ tiêu cụ thể như làm chủ tối thiểu 80% công nghệ lõi, đạt tỷ lệ giá trị gia tăng nội địa tối thiểu 60% trong giá bán và 40% trong giá thành cho thấy yêu cầu rất cao về chiều sâu công nghệ, hạn chế tối đa tình trạng “lắp ráp - phụ thuộc - gia công”.

Song song với đó, Chương trình đặt mục tiêu rõ ràng về tác động kinh tế – xã hội: tối thiểu 80% nhiệm vụ nghiên cứu phải được ứng dụng hoặc thương mại hóa; sản phẩm tạo ra phải đủ năng lực cạnh tranh với sản phẩm cùng loại của các nước tiên tiến. Điều này phản ánh quan điểm xuyên suốt: khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo phải phục vụ trực tiếp cho phát triển sản xuất, thị trường và năng lực cạnh tranh quốc gia, không tách rời thực tiễn.

Cơ chế triển khai, tiêu chí đánh giá và tổ chức thực hiện

Để bảo đảm Chương trình không rơi vào tình trạng mục tiêu cao nhưng triển khai hình thức, Quyết định đã thiết kế hệ thống tiêu chí đánh giá tương đối chặt chẽ, bao phủ từ năng lực công nghệ, sở hữu trí tuệ, đào tạo nhân lực đến thương mại hóa và tác động kinh tế - xã hội. Sáu nhóm chỉ tiêu được xây dựng theo logic “đầu vào - quá trình - đầu ra - tác động”, tạo cơ sở để giám sát thực chất kết quả thực hiện.

Đáng chú ý, Chương trình gắn chặt nghiên cứu với đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao. Việc yêu cầu 80% nhiệm vụ nghiên cứu tham gia đào tạo sau đại học, trong đó có 30% tham gia đào tạo tiến sĩ, cho thấy định hướng phát triển đồng thời cả năng lực công nghệ và đội ngũ nhân lực nghiên cứu kế cận. Cùng với đó là mục tiêu hình thành 10 nhóm nghiên cứu mạnh, có sự tham gia của doanh nghiệp, viện nghiên cứu và trường đại học, gắn kết với Mạng lưới đổi mới sáng tạo Việt Nam, nhằm khắc phục tình trạng chia cắt giữa nghiên cứu - đào tạo - sản xuất.

Về tổ chức thực hiện, Chương trình không chỉ trông chờ vào khu vực công mà đặt doanh nghiệp ở vị trí trung tâm. Mục tiêu hỗ trợ tối thiểu 30 doanh nghiệp và 10 viện, trường trực tiếp tham gia nghiên cứu, cùng với việc phát triển 100 doanh nghiệp phụ trợ trong chuỗi cung ứng cho thấy tư duy xây dựng hệ sinh thái công nghiệp công nghệ chiến lược, thay vì phát triển đơn lẻ từng sản phẩm.

Nguồn lực tài chính cho Chương trình được bảo đảm từ NSNN trong tổng số 15% chi ngân sách cho KH&CN phục vụ nghiên cứu công nghệ chiến lược, đồng thời huy động nguồn lực từ doanh nghiệp và khu vực tư nhân. Cách tiếp cận này vừa bảo đảm vai trò dẫn dắt của Nhà nước, vừa tạo động lực để khu vực tư nhân tham gia sâu, chia sẻ rủi ro và hưởng lợi từ kết quả thương mại hóa.

Việc thành lập Tổ Công tác triển khai Chương trình do Bộ trưởng Bộ KH&CN làm Tổ trưởng là cơ chế điều phối quan trọng, nhằm khắc phục tình trạng phân tán, chồng chéo trong triển khai các chương trình KH&CN trước đây. Tổ Công tác có nhiệm vụ điều phối, đôn đốc, hướng dẫn các Bộ, ngành, địa phương, bảo đảm Chương trình được triển khai thống nhất, có trọng tâm và đúng tiến độ.

Tổng thể, Chương trình không chỉ là một chương trình KH&CN đơn thuần, mà là một công cụ chính sách nhằm kiến tạo năng lực công nghiệp công nghệ cao, từng bước hình thành các ngành công nghiệp chiến lược, qua đó nâng cao năng lực tự chủ công nghệ và sức cạnh tranh dài hạn của nền kinh tế.

Bình luận
Công ty IDECO Công ty Cổ phần cảng Nghệ Tĩnh Trung tâm dạy nghề tư thục Tùng Linh Công ty portcoast Công ty Xe đạp Thống Nhất
  • Dự án Monrei Saigon Thành phố thuỷ liệu đầu tiên tại Việt Nam