Tóm tắt
Bài viết phân tích kinh nghiệm phát triển giao thông vận tải tổng hợp theo hướng xanh tại Trung Quốc. Bằng phương pháp định tính, tổng hợp và phân tích tài liệu thứ cấp, bài viết tập trung làm rõ thực trạng phát triển, những thành tựu đạt được cũng như hạn chế còn tồn tại trong hệ thống giao thông vận tải tổng hợp của Trung Quốc giai đoạn 2011-2023. Kết quả nghiên cứu cho thấy Trung Quốc đã đạt được nhiều thành tựu về hạ tầng, công nghệ và phát triển xanh, song vẫn đối mặt với thách thức về chênh lệch vùng miền và cơ cấu vận tải chưa bền vững. Theo đó, bài viết đề xuất năm bài học kinh nghiệm có giá trị tham khảo cho Việt Nam trong quá trình hoàn thiện hệ thống giao thông theo hướng hiện đại, hiệu quả và thân thiện với môi trường.
ĐẶT VẤN ĐỀ
Giao thông vận tải tổng hợp đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế quốc gia, thúc đẩy liên kết vùng, lưu thông hàng hóa và hội nhập quốc tế. Tại Trung Quốc, năm 2019, Trung ương Đảng và Quốc vụ viện đã ban hành chiến lược "Cương yếu xây dựng cường quốc giao thông", trong đó đề xuất rõ ràng việc xây dựng hệ thống giao thông toàn diện cần chú trọng hơn đến sự thịnh vượng chung và xây dựng văn minh xã hội và sinh thái trong giao thông vận tải (Maqi Fei, 2023). Tại Việt Nam, nhu cầu vận tải đang tăng trưởng mạnh. Năm 2025, vận chuyển hành khách đạt 6.183,6 triệu lượt (tăng 22,2% so với năm 2024), vận chuyển hàng hóa đạt 3.027,7 triệu tấn (tăng 14,1% so với năm 2024) (Minh Kiệt, 2026). Tuy nhiên, hệ thống giao thông vẫn tổn tại nhiều hạn chế như cơ cấu vận tải mất cân đối, phụ thuộc lớn vào đường bộ, phát thải gia tăng và thiếu đồng bộ giữa các phương thức. Do đó, bài viết “Phát triển giao thông vận tải tổng hợp tại Trung Quốc và bài học cho Việt Nam” sẽ phân tích kinh nghiệm phát triển giao thông vận tải tổng hợp theo hướng xanh của Trung Quốc, từ đó rút ra bài học phù hợp nhằm thúc đẩy chuyển đổi mô hình phát triển giao thông tại Việt Nam theo hướng bền vững và chất lượng cao.
Cho đến nay, một số nghiên cứu đã phân tích mô hình giao thông vận tải tổng hợp. Nghiên cứu của Putman (1974) được xem là tiên phong khi kết hợp mô hình sử dụng đất với mô hình mạng lưới giao thông, qua đó làm rõ mối quan hệ tương hỗ giữa hai yếu tố này. Ở khía cạnh công nghệ, Fries và cộng sự (2008) nhấn mạnh vai trò của Hệ thống Giao thông Thông minh (ITS) trong giám sát và quản lý luồng giao thông, trong khi Chen và cộng sự (2006) đề xuất khung GIS tích hợp nhằm giải quyết các thách thức về di chuyển đô thị tại Quảng Châu. Về mặt hỗ trợ ra quyết định chính sách, Ülengin và cộng sự (2007) đã xây dựng hệ thống tích hợp cho phép phân tích đa chiều các chiến lược giao thông tại Thổ Nhĩ Kỳ. Các tài liệu cho thấy phát triển giao thông tổng hợp chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố như quy hoạch sử dụng đất, ứng dụng công nghệ và thể chế chính sách.
Tuy nhiên, còn ít nghiên cứu về kinh nghiệm tại các nước châu Á tương đồng với Việt Nam. Vì vậy, bài viết này sẽ sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính, bao gồm tổng hợp và phân tích tài liệu thứ cấp, nhằm làm rõ quan điểm phát triển giao thông vận tải tổng hợp theo hướng xanh tại Trung Quốc, phân tích các yếu tố then chốt trong chính sách, đánh giá kết quả đạt được và hạn chế tại Trung Quốc, từ đó đề xuất bài học kinh nghiệm phù hợp cho Việt Nam, góp phần hoàn thiện hệ thống giao thông vận tải theo hướng xanh và bền vững trong tương lai.
NỘI DUNG CHÍNH
1. Tổng quan về giao thông vận tải tổng hợp
Ý tưởng về giao thông vận tải tổng hợp lần đầu tiên xuất hiện vào nửa sau của thế kỷ 19. Vào tháng 2 năm 1887, Quốc hội Hoa Kỳ đã thông qua Đạo luật Thương mại Liên bang, nói rằng cần phải "công nhận đầy đủ và bảo vệ những lợi thế vốn có của mọi phương thức vận tải" (Xue Kepeng, 2018). Theo "Bách khoa toàn thư Trung Quốc", giao thông vận tải tổng hợp là ngành nghiên cứu sự phát triển tổng hợp của các phương thức vận tải, sử dụng các phương thức vận tải như đường bộ, đường sắt, thủy vận, hàng không và đường ống để dần hình thành và không ngừng hoàn thiện một hệ thống vận tải có công nghệ tiên tiến, bố trí mạng lưới hợp lý và cấu trúc vận tải hợp lý (Zhang Guowu, 2006). Nhìn chung, các định nghĩa về hệ thống giao thông vận tải tổng hợp có một số đặc điểm chung sau: Thứ nhất, hệ thống vận tải tổng hợp bao gồm năm phương thức vận tải: đường bộ, đường sắt, thủy vận, hàng không và đường ống. Thứ hai, năm phương thức vận tải này có những lợi thế riêng, cần phân công hợp lý và phối hợp nhịp nhàng. Thứ ba, nhấn mạnh sự kết nối hữu cơ giữa các phương thức vận tải, nhưng vẫn có tranh cãi về việc kết nối nào là hiệu quả nhất.
2. Phát triển giao thông vận tải tổng hợp tại Trung Quốc
2.1. Một số chính sách về giao thông vận tải tổng hợp tại Trung Quốc
Ngay từ giai đoạn Kế hoạch 5 năm lần thứ 12 (2011-2015), Bộ Giao thông Vận tải Trung Quốc đã triển khai chương trình thí điểm "Thành phố giao thông xanh" tại 26 thành phố, tập trung vào bốn chủ đề: giao thông xanh, hiệu quả, carbon thấp và thông minh, nhằm xây dựng hệ thống giao thông đô thị bền vững. Tháng 9 năm 2019, Quốc vụ viện ban hành chiến lược "Cương yếu xây dựng cường quốc giao thông", chỉ rõ ba chuyển đổi căn bản: từ theo đuổi tốc độ và quy mô sang tập trung vào chất lượng và hiệu quả; từ phát triển độc lập sang tích hợp, liên kết; từ dựa vào yếu tố truyền thống sang dựa vào đổi mới sáng tạo, đồng thời đặt ra yêu cầu mới cho phát triển giao thông carbon thấp. Tháng 2 năm 2021, Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc và Quốc vụ viện ban hành chiến lược "Cương yếu quy hoạch mạng lưới giao thông tổng hợp quốc gia", nhấn mạnh đẩy nhanh phát triển xanh, carbon thấp, lấy đổi mới làm quan điểm cốt lõi, chú trọng trao quyền cho khoa học công nghệ, hướng tới đạt đỉnh carbon sớm trong lĩnh vực giao thông. Tháng 1 năm 2022, Bộ Giao thông Vận tải công bố kế hoạch "Kế hoạch 5 năm lần thứ 14 về phát triển giao thông xanh", xác định mục tiêu đến năm 2025, trình độ phát triển xanh của giao thông vận tải cơ bản đáp ứng yêu cầu xây dựng cường quốc giao thông. Các văn kiện trên thể hiện sự nhất quán trong quan điểm phát triển giao thông xanh của Trung Quốc, với định hướng lấy đổi mới công nghệ làm động lực, sử dụng hợp lý tài nguyên, giảm ô nhiễm môi trường và thúc đẩy công bằng xã hội.
2.2. Kết quả đạt được và hạn chế
Kể từ khi ban hành "Cương yếu xây dựng cường quốc giao thông" năm 2019 đến năm 2023, trong 5 năm, Trung Quốc đã hoàn thành đầu tư tài sản cố định giao thông hơn 18.000 tỷ NDT (khoảng 2.500 tỷ USD). Tính đến cuối năm 2023, tổng lộ trình mạng lưới giao thông tổng hợp đã vượt 6 triệu km, trong đó lộ trình vận hành đường sắt toàn quốc đạt 159.000 km, đường sắt cao tốc là 45.000 km; tổng chiều dài quốc lộ đạt 5,441 triệu km, đường cao tốc là 184.000 km; lộ trình tuyến bay vùng nước nội địa dài 128.000 km; bến cảng sản xuất có 21.905 bến, trong đó có 2.883 bến trên 10.000 tấn; 259 sân bay vận tải hàng không dân dụng, trong đó 38 sân bay có lượng hành khách hàng năm vượt quá 10 triệu lượt người (Hải Yến, 2024). Về năng lực vận tải, năm 2023, Trung Quốc đã vận chuyển 54,75 tỷ tấn hàng hóa, tăng 8,1% so với năm 2022 và tăng 16,9% so với năm 2019 (Hải Yến, 2024). Chiến lược phát triển hạ tầng giao thông đã đưa Trung Quốc trở thành nước có mạng lưới đường cao tốc, đường sắt cao tốc, cụm cảng và cụm sân bay lớn nhất thế giới, hình thành hệ thống giao thông ba chiều "đường biển, đường bộ và đường không". Về ứng dụng công nghệ, các lĩnh vực giao thông vận tải phát triển mạnh mẽ với công nghệ đồng bộ xây dựng đường sắt cao tốc, đường hầm, cầu vượt biển… nằm trong top đầu thế giới. Tàu cao tốc "Phục Hưng", máy bay cỡ lớn C919, bến cảng container tự động hóa cảng Dương Sơn Thượng Hải đi vào hoạt động, công nghệ Bắc Đẩu được ứng dụng sâu rộng, hệ thống nhận diện khuôn mặt hành khách được sử dụng phổ biến (Hải Yến, 2024). Kết nối dữ liệu lớn giao thông, ứng dụng công nghệ thông minh hóa không ngừng được đổi mới. Sự kết hợp giữa hình thái giao thông truyền thống và công nghệ thông tin mới đã thúc đẩy nhiều hình thái vận tải mới, phát huy vai trò quan trọng trong phục vụ người dân. Về phát triển giao thông xanh, thành quả đạt được khá nổi bật. Chiến lược ưu tiên phát triển giao thông công cộng đô thị được triển khai sâu rộng, làn xe dành riêng cho xe buýt tăng từ 5.256 km năm 2012 lên 18.264 km năm 2021. Trong lĩnh vực chuyển đổi xanh phương tiện, tính đến cuối năm 2023, Trung Quốc có hơn 20 triệu xe năng lượng mới. Đầu tư tài sản cố định vào lĩnh vực giao thông vận tải đạt 3,6 nghìn tỷ NDT (khoảng 500 tỷ USD) trong 11 tháng đầu năm 2023 (Hải Yến, 2024). Về phát triển hạ tầng thủy lợi và kết nối vùng, kênh Giang Hoài ở tỉnh An Huy được đưa vào hoạt động năm 2023 là một phần của dự án lớn chuyển nước từ sông Dương Tử sang sông Hoài Hà. Dự án chuyển hướng nước dài 723 km, mất 6 năm xây dựng, sẽ cung cấp nước cho 15 thành phố ở tỉnh An Huy và tỉnh Hà Nam, mang lại lợi ích cho hơn 50 triệu người dân (Hải Nguyễn, 2024).
Mặc dù đạt được nhiều thành tựu to lớn, phát triển giao thông vận tải tổng hợp Trung Quốc vẫn còn tồn tại một số hạn chế. Bố cục mạng lưới cơ sở hạ tầng chưa hợp lý, phân bố giữa các vùng miền còn mất cân bằng, với hiệu quả xanh ở miền Đông cao hơn nhiều so với miền Trung và miền Tây (Ma Qifei, 2023). Ngoài ra, một số chuyên gia trong ngành cho rằng giao thông của Trung Quốc vẫn chưa thích ứng với yêu cầu xây dựng cường quốc hiện đại hóa xã hội chủ nghĩa, so với cường quốc giao thông thế giới vẫn tồn tại khoảng cách không nhỏ như hệ thống giao thông tổng hợp chưa hoàn thiện, phương thức vận tải xanh chiếm tỷ lệ không cao, vấn đề tiêu thụ năng lượng cao, khí thải cao chưa được giải quyết, hiệu quả và trình độ dịch vụ vận tải chênh lệch khá lớn (Hải Yến, 2024). Đồng thời, một số dịch vụ công cơ bản về vận tải ở vùng sâu vùng xa, vùng nghèo khó thiếu phương thức dịch vụ đa dạng, chi phí logistics cao, tình hình ùn tắc giao thông đô thị nghiêm trọng.
3. Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Từ thực tiễn phát triển giao thông vận tải tổng hợp của Trung Quốc, có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm quý giá cho Việt Nam trong quá trình hoàn thiện hệ thống giao thông theo hướng hiện đại và bền vững.
Thứ nhất, cần tăng cường tính đồng bộ và hiệu quả thực thi chính sách. Việt Nam đã có hệ thống chiến lược, quy hoạch phát triển giao thông khá đầy đủ, nhưng thách thức lớn nhất nằm ở khâu thực thi và phối hợp liên ngành. Kinh nghiệm Trung Quốc cho thấy, cần xây dựng cơ chế điều phối hiệu quả giữa các Bộ, ngành và địa phương, gắn kết quy hoạch giao thông với quy hoạch sử dụng đất và phát triển đô thị, từ đó đảm bảo nguồn lực được sử dụng tập trung, tránh chồng chéo và lãng phí.
Thứ hai, cần chú trọng phát triển các phương thức vận tải xanh, giảm phụ thuộc vào đường bộ. Kinh nghiệm Trung Quốc cho thấy việc đẩy mạnh đầu tư vào đường sắt cao tốc, đường thủy nội địa và xe năng lượng mới đã giúp tái cân bằng cơ cấu vận tải, giảm phát thải và tiết kiệm năng lượng. Việt Nam cần có chính sách ưu tiên phát triển đường sắt, đường thủy nội địa, khuyến khích sử dụng phương tiện công cộng và xe năng lượng sạch.
Thứ ba, cần ứng dụng mạnh mẽ khoa học công nghệ, đặc biệt là chuyển đổi số và trí tuệ nhân tạo trong quản lý giao thông. Trung Quốc đã phát triển đồng bộ các công nghệ như nhận diện khuôn mặt, hệ thống thu phí tự động, quản lý dữ liệu lớn, bến cảng tự động hóa… góp phần nâng cao hiệu quả khai thác hạ tầng. Việt Nam cần đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý, điều hành và giám sát hoạt động giao thông, xây dựng hệ thống dữ liệu giao thông thông minh.
Thứ tư, cần tăng cường liên kết vùng, phát triển hạ tầng đồng bộ giữa các địa phương. Sự chênh lệch giữa các vùng ở Trung Quốc là bài học cảnh báo về tình trạng phát triển không cân đối. Việt Nam cần quy hoạch mạng lưới giao thông thống nhất, ưu tiên xây dựng các tuyến kết nối Bắc - Trung - Nam và phát triển mạng lưới giao thông nội vùng, đồng thời đầu tư có trọng điểm vào các khu vực khó khăn để thu hẹp khoảng cách về hạ tầng và dịch vụ vận tải.
Thứ năm, cần lồng ghép mục tiêu phát triển bền vững vào tất cả các dự án hạ tầng giao thông. Kinh nghiệm Trung Quốc cho thấy, chỉ đo lường hiệu quả kinh tế đơn thuần là chưa đủ, cần đánh giá cả tác động môi trường và phúc lợi xã hội – những yếu tố cốt lõi của "hiệu quả xanh". Việt Nam nên nghiên cứu xây dựng bộ tiêu chí đánh giá tương tự, làm cơ sở cho việc phê duyệt và giám sát các dự án giao thông trọng điểm, đảm bảo hài hòa giữa phát triển kinh tế, bảo vệ môi trường và nâng cao chất lượng sống của người dân.
KẾT LUẬN
Bài viết đã phân tích thực tiễn phát triển giao thông vận tải tổng hợp theo hướng xanh tại Trung Quốc, tập trung vào hệ thống chính sách, kết quả đạt được và những hạn chế còn tồn tại. Trên cơ sở đó, bài viết rút ra năm bài học kinh nghiệm có giá trị tham khảo cho Việt Nam, bao gồm: đảm bảo tính đồng bộ trong thực thi chính sách, phát triển vận tải xanh, ứng dụng công nghệ số, tăng cường liên kết vùng và lồng ghép mục tiêu phát triển bền vững. Tuy nhiên, nghiên cứu còn mang tính định tính, chưa có số liệu đo lường cụ thể cho Việt Nam. Hướng nghiên cứu tiếp theo có thể xây dựng bộ chỉ số đánh giá hiệu quả xanh phù hợp với điều kiện thực tế của Việt Nam, làm cơ sở cho hoạch định chính sách trong tương lai.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Chen, S., Ray, C., Tan, J., & Claramunt, C. (2006). An integrated transportation GIS system for Guangzhou city, China. In Proceedings of the 6th International Conference on ITS Telecommunications (pp. 1-4). IEEE.
2. Fries, R., Chowdhury, M., & Brummond, J. (2008). Transportation infrastructure security utilizing intelligent transportation systems. John Wiley & Sons.
3. Hải Nguyễn (2024). Trung Quốc phát triển thần tốc mạng lưới giao thông đa chiều. Báo Lao động. Truy cập tại Trung Quốc phát triển thần tốc mạng lưới giao thông đa chiều ngày 21/03/2026.
4. Hải Yến (2024). Tạo phát triển đột phá cho hạ tầng chiến lược - Bài cuối: Chiến lược phát triển giao thông hiện đại ở Trung Quốc. Trang Thông tin Đối ngoại. Truy cập tại Tạo phát triển đột phá cho hạ tầng chiến lược - Bài cuối: Chiến lược phát triển giao thông hiện đại ở Trung Quốc | Thông Tin Đối Ngoại - Ban Tuyên giáo Trung ương ngày 21/03/2026.
5. Maqi Fei (2023). Study on the green efficiency of comprehensive transportation in China. Dalian Maritime University.
6. Minh Kiệt (2026). Bức tranh vận tải Việt Nam 2025: Tăng trưởng mạnh về "lượng", phân hóa rõ về "chất". VnEconomy. Truy cập tại Vận tải Việt Nam 2025: Tăng trưởng mạnh mẽ, đường bộ chiếm ưu thế - VnEconomy ngày 18/03/2026.
7. Putman, S. H. (1974). Preliminary results from an integrated transportation and land use models package. Transportation, 3(3), 193–224.
8. Ülengin, F., Önsel, Ş., Topcu, Y. I., Aktaş, E., & Kabak, Ö. (2007). An integrated transportation decision support system for transportation policy decisions: The case of Turkey. Transportation Research Part A: Policy and Practice, 41(1), 80-97.
9. Xue Kepeng (2018). Kinh tế pháp học [M]. Bắc Kinh: Nhà xuất bản Đại học Chính trị - Pháp luật Trung Quốc.
10. Zhang Guowu (2006). Phân tích một số vấn đề lý thuyết và thực tiễn về giao thông tổng hợp của nước ta - Biên bản cuộc họp Hội đồng Thường vụ Hiệp hội Kỹ thuật Giao thông Trung Quốc. Hệ thống Kỹ thuật và Thông tin Giao thông, 6(2):1-7.

Bài viết phân tích quá trình phát triển giao thông vận tải tổng hợp theo hướng xanh của Trung Quốc, chỉ ra thành tựu, hạn chế và rút ra các bài học chính sách có giá trị tham khảo cho Việt Nam. 

