Phát triển kiến trúc xí nghiệp công nghiệp nhẹ theo hướng xanh tại Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam 

Bài viết tổng hợp các cơ sở khoa học về tổ chức không gian xí nghiệp công nghiệp nhẹ theo hướng xanh. Từ đó đề xuất định hướng giải pháp tổ chức không gian xí nghiệp nhẹ theo hướng xanh tại vùng kinh tế trọng điểm phía Nam.

1.  Đặt vấn đề

Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam (VKTTĐPN) là khu vực phát triển kinh tế năng động, dẫn đầu cả nước về tỷ trọng đóng góp GDP. Trong đó, công nghiệp nhẹ là một trong những ngành công nghiệp chủ chốt của vùng với lực lượng lao động tập trung cao. XNCN nhẹ thường có mặt bằng xây dựng lớn, mức độ tiêu thụ năng lượng cao và công nhân làm việc trong môi trường tương đối khắc nghiệt.

Song kiến trúc XNCN nhẹ hiện nay chủ yếu tập trung tới dây chuyền sản xuất, yếu tố “xanh” còn chưa được quan tâm đúng mức. Do đó, phát triển kiến trúc XNCN nhẹ theo hướng xanh sẽ mang lại hiệu quả năng lượng, kinh tế và tạo điều kiện làm việc tốt hơn cho người lao động. 

2. Các khái niệm và thuật ngữ

- XNCN là cụm từ mang tính khái quát chung để chỉ tất cả các cơ sở sản xuất công nghiệp bao gồm các nhà máy và xí nghiệp [2]. Ở đó tiến hành hoạt động sản xuất từ nhập nguyên liệu, gia công và tạo ra sản phẩm công nghiệp.

- Công trình công nghiệp nhẹ là một công trình độc lập, một tổ hợp các công trình hoặc một dây chuyền công nghệ trong các cơ sở sản xuất, chế biến, đóng gói và kho chứa các sản phẩm. Công trình công nghiệp nhẹ gồm 03 lĩnh vực: thực phẩm, tiêu dùng và nông - thuỷ - hải sản [3].

- XNCN nhẹ là cơ sở sản xuất công nghiệp nhẹ, có ranh giới khu đất cụ thể, diễn ra hoạt động sản xuất hoàn chỉnh và có đầy đủ các khu chức năng. Trong đó, khu sản xuất gồm các công trình công nghiệp nhẹ. Bài báo này phân tích đối tượng XNCN nhẹ thuộc lĩnh vực sản xuất hàng tiêu dùng, với đặc điểm không gian sản xuất yêu cầu thông gió và chiếu sáng kết hợp tự nhiên và nhân tạo.

- Kiến trúc theo hướng xanh là thiết kế đảm bảo chất lượng môi trường bên trong và bên ngoài công trình theo định hướng tiết kiệm năng lượng, hiệu quả kinh tế, bảo vệ môi trường và tạo điều kiện tốt nhất cho con người trong các không gian, hướng tới các tiêu chuẩn LEED, EDGE, LOTUS và chiến lược tăng trưởng xanh quốc gia.

- Tổ chức không gian (TCKG) XNCN là việc bố trí, sắp xếp hợp lý các khu chức năng trong phạm vi XNCN.

3. Tình hình TCKG XNCN nhẹ theo hướng xanh tại một số khu vực trên thế giới và tại Việt Nam

3.1. Tại một số khu vực trên thế giới

Châu Âu và châu Mỹ là nơi khởi nguồn của phát triển công trình hiệu quả năng lượng và công trình xanh. Tuy nhiên, do yêu cầu về số lượng lao động trong lĩnh vực công nghiệp nhẹ thường khá cao nên XNCN nhẹ có xu hướng chuyển dịch về các quốc gia có lực lượng lao động dồi dào. 

Châu Á chuyển đổi xanh chậm hơn so với châu Âu và châu Mỹ. Song đến nay, các quốc gia dẫn đầu số lượng XNCN nhẹ theo hướng xanh trên thế giới đều nằm ở châu lục này. Ví dụ như Bangladesh, Trung Quốc, Đài Loan, Ấn Độ…

Cụ thể, tại Trung Quốc, kế hoạch về sản xuất xanh được thiết lập từ năm 2015 và xây dựng nhà máy xanh là một phần quan trọng của kế hoạch. Năm 2018, tiêu chuẩn GB/T 36132-2018 - Nguyên tắc chung đánh giá nhà máy xanh được ban hành. Đến tháng 8/2020, số lượng nhà máy xanh trong lĩnh vực điện tử, dệt may và thực phẩm lần lượt là 230; 67 và 124 [12].

Tại Hàn Quốc, từ năm 2004, các khu công nghiệp (KCN) ở Ulsan bắt đầu chuyển sang mô hình KCN sinh thái với sự hỗ trợ của Bộ Thương mại, Công nghiệp và Năng lượng [10]. Năm 2009, Chính phủ Hàn Quốc đã ban hành Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh, tầm nhìn đến năm 2050. Từ đó đến nay, số lượng doanh nghiệp công nghiệp xanh vừa và nhỏ đã tăng hơn 40%. Hệ thống Chứng chỉ xanh của Hàn Quốc đã công nhận hơn 400 doanh nghiệp xanh từ năm 2010 [4]. 

Bangladesh có ngành công nghiệp may mặc phát triển mạnh mẽ, đóng góp hơn 80% thu nhập xuất khẩu của quốc gia và tạo việc làm cho hàng triệu lao động, đã và đang chuyển đổi xanh để tăng khả năng cạnh tranh trong khu vực. Tính đến đầu 2025, 237 nhà máy may mặc đạt chứng nhận LEED tại Bangladesh đã giúp quốc gia này dẫn đầu thế giới về số lượng nhà máy xanh trong lĩnh vực may mặc [14]. 

Tại ASEAN, một số quốc gia như Thái Lan và Malaysia cũng đã nhanh chóng hướng tới xanh trong lĩnh vực kiến trúc công nghiệp. Năm 2011, Liên đoàn Công nghiệp Thái Lan đã thiết lập chứng nhận Nhà máy xanh. Chứng nhận này gồm các định nghĩa, tiêu chuẩn, phạm vi và hướng dẫn để phát triển nhà máy sinh thái để thúc đẩy chuyển đổi xanh trong lĩnh vực công nghiệp [12].

Malaysia cũng có công cụ riêng để đánh giá công trình công nghiệp xanh có tên INC (Industrial New Construction) thuộc hệ thống GBI, nhằm khuyến khích các nhà máy xây mới tại quốc gia này theo hướng xanh [15].

3.2. Tại Việt Nam

Kiến trúc xanh đang ngày càng phổ biến ở Việt Nam, nhưng vẫn còn khá mới mẻ với nhiều chủ đầu tư và người lao động trong XNCN. Nhiều chủ đầu tư và người sử dụng chưa thực sự nắm rõ được lợi ích của XNCN theo hướng xanh.

Mặc dù số công trình công nghiệp đạt chứng nhận xanh tăng dần qua các năm và có tỷ lệ cao hơn các loại hình khác, song số lượng này vẫn chiếm tỷ lệ rất nhỏ so với tổng số công trình công nghiệp xây mới.

Tại VKTTĐPN, XNCN nhẹ có nhiều lợi thế để phát triển xanh về điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội, khi vùng là trung tâm sản xuất và xuất khẩu của cả nước. Bên cạnh các chứng nhận như LEED, LOTUS, EDGE, nhiều văn bản pháp luật liên quan đến công trình xanh đã được ban hành, cùng các chính sách khuyến khích của địa phương.

Ví dụ, khu vực Bình Dương (cũ) đã công bố 40 XNCN theo hướng xanh vào năm 2022 [7]. Năm 2024, giải cao nhất Giải thưởng Kiến trúc công nghiệp Việt Nam 2024 thuộc về XNCN điện tử Hayward Quatz Technology tại KCN VSIP 1 Bình Dương.

4. Giới thiệu chung và thực trạng TCKG XNCN nhẹ theo hướng xanh tại VKTTĐPN

4.1. Giới thiệu chung về VKTTĐPN

VKTTĐPN có diện tích khoảng 30.592 km2, chiếm 9,24% so với cả nước. Trước 01/7/2025, vùng gồm 08 tỉnh, thành phố: TP.HCM, Bình Phước, Tây Ninh, Bình Dương, Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu, Long An và Tiền Giang [6]. Sau khi sáp nhập địa giới hành chính từ 01/7/2025, vùng gồm TP.HCM, Đồng Nai, Tây Ninh và một phần tỉnh Đồng Tháp.

Về điều kiện tự nhiên, VKTTĐPN nằm trọn vẹn trong vùng khí hậu Vùng Nam Bộ - Vùng VII với đặc điểm khí hậu khá đồng nhất, mang đặc điểm điển hình của khí hậu nhiệt đới gió mùa với 02 mùa là mùa mưa và mùa khô [1].

Về điều kiện kinh tế, vùng có sức hút đầu tư lớn trong khu vực và là trung tâm công nghiệp lớn nhất cả nước. Lĩnh vực công nghiệp - xây dựng chiếm khoảng 50% tổng cơ cấu ngành trong cơ cấu kinh tế vùng. Về điều kiện xã hội, vùng tập trung lực lượng lao động trẻ với trình độ kỹ thuật cao hơn so với các khu vực khác, sẵn sàng đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế và hội nhập quốc tế [8].

4.2.Thực trạng tổ chức không gian XNCN nhẹ tại VKTTĐPN

Số lượng XNCN nhẹ trong VKTTĐPN chiếm số lượng lớn và có xu hướng ngày càng gia tăng. Tuy nhiên, phần lớn các xí nghiệp hiện nay có quy mô vừa và nhỏ với vốn đầu tư thấp, công nghệ sản xuất còn lạc hậu. Các giải pháp thiết kế hướng đến tiết kiệm năng lượng và bảo vệ môi trường trong XNCN nhẹ còn ít được quan tâm. 

Bố trí tổng mặt bằng XNCN hiện nay chủ yếu đảm bảo dây chuyền công năng. Mật độ xây dựng tại các XNCN thường khá cao. Thiết kế hình khối, hướng nhà và lớp vỏ bao che của công trình nhằm hiệu quả năng lượng chưa thực sự chú trọng. Một số công trình kỹ thuật chưa chú ý đến hướng gió chính gây ảnh hưởng bất lợi đến khu vực sản xuất.

Không gian nhà sản xuất trong XNCN nhẹ hiện nay phần lớn đáp ứng yêu cầu công năng. Các yếu tố liên quan đến các vấn đề năng lượng và bảo vệ môi trường hầu như chưa được xem xét một cách toàn diện.

Mặc dù mặt bằng không gian sản xuất thường lớn đặt ra yêu cầu về thông gió tự nhiên và thoát nhiệt hiệu quả, song nhiều thiết kế vẫn chưa chú trọng đến điều này. Một số không gian tập trung đông công nhân chưa được ưu tiên bố trí vị trí và hướng thuận lợi về điều kiện tự nhiên, dẫn tới chất lượng môi trường bên trong không gian làm việc chưa cao và làm tăng nhu cầu sử dụng năng lượng trong quá trình vận hành (Hình 1, 2).

Hiện nay, vật liệu xây dựng ngày càng đa dạng với sự góp mặt của nhiều sản phẩm mới giúp tăng cường hiệu quả năng lượng như panel cách nhiệt, kính Low-E, các vật liệu từ nhựa tổng hợp…

Tuy nhiên, do yếu tố giá thành của các vật liệu trên còn tương đối cao nên hầu hết XNCN nhẹ hiện nay sử dụng vật liệu bao che bằng tôn có lớp cách nhiệt, kết cấu chịu lực bằng khung thép tiền chế hoặc kết cấu hỗn hợp (móng và cột bằng bê tông cốt thép, kết cấu mang lực mái bằng thép).

Không gian khu vực hành chính và phục vụ công cộng - sinh hoạt bên trong XNCN nhẹ phần lớn đáp ứng nhu cầu sử dụng cơ bản với các hạng mục thiết yếu theo quy định. Rất ít xí nghiệp đầu tư các hạng mục không gian nghỉ ngơi giữa ca, không gian thể dục thể thao, không gian giao lưu văn hoá, văn nghệ. Mặc dù khu vực phục vụ công cộng đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao sức khỏe và tinh thần cho người lao động, song có khá ít XNCN nhẹ đầu tư các hạng mục này.

Khu vực cung cấp và đảm bảo kỹ thuật được bố trí đầy đủ và đảm bảo hoạt động sản xuất. Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại xí nghiệp chưa lưu ý đến vị trí của khu vực này để tránh làm ảnh hưởng bất lợi tới khu vực sản xuất và khu vực phục vụ công cộng sinh hoạt trong xí nghiệp.

Đối với việc sử dụng nguyên nhiên liệu sạch, năng lượng tái tạo và các biện pháp khuyến khích phương tiện giao thông sử dụng nhiên liệu sạch, số lượng XNCN nhẹ đã áp dụng còn rất hạn chế.

4.3. Thực trạng áp dụng các hệ thống tiêu chuẩn công trình xanh cho công trình công nghiệp nhẹ tại VKTTĐPN

Công trình công nghiệp đạt chứng nhận công trình xanh đầu tiên tại VKTTĐPN là nhà máy Congate Pamolive Vietnam với chứng nhận LEED Silver vào năm 2010. Đây cũng là sự khởi đầu cho công trình công nghiệp đạt chứng nhận LEED tại Việt Nam.

Đến nay, LEED là tiêu chuẩn công trình xanh được sử dụng phổ biến nhất trong lĩnh vực công nghiệp tại VKTTĐPN nói riêng và trên toàn quốc nói chung. Trong đó, các công trình công nghiệp nhẹ chiếm đa số, chủ yếu thuộc lĩnh vực hàng tiêu dùng như may mặc, giày dép và điện tử.

Bên cạnh chứng nhận LEED, công trình công nghiệp đạt chứng nhận xanh EDGE cũng có xu hướng tăng nhanh trong những năm gần đây và phần lớn thuộc lĩnh vực trung tâm kho vận. Một số công trình công nghiệp trong VKTTĐPN đạt chứng nhận LOTUS như Xí nghiệp May 3, Công ty CP Đồng Tiến, XNCN may Đồng Phú Cường 2 (Hình 3, 4). 

So sánh ba hệ thống đánh giá công trình xanh phổ biến tại Việt Nam hiện nay cho thấy LEED có mức độ uy tín toàn cầu, song một số tiêu chí khó đạt được đối với các công trình công nghiệp ở Việt Nam. LOTUS mang tính địa phương cao do được xây dựng dựa trên tiêu chuẩn, quy chuẩn Việt Nam.

Tuy nhiên, phạm vi áp dụng của QCVN 09:2017/BXD dùng để xây dựng hệ tiêu chí không bao gồm công trình công nghiệp. EDGE có quy trình đơn giản song còn chưa đánh giá được toàn diện các vấn đề.

5. Một số cơ sở khoa học về TCKG XNCN nhẹ theo hướng xanh tại VKTTĐPN

5.1. Cơ sở pháp lý

a) Các văn bản pháp lý liên quan đến TCKG XNCN nhẹ: TCVN 4514:2012 về XNCN - Tổng mặt bằng - Tiêu chuẩn thiết kế; TCVN 4604:2012 - XNCN - Nhà sản xuất - Tiêu chuẩn thiết kế; QCVN 01:2021/BXD - Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về quy hoạch xây dựng; Thông tư số 06/2021/TT-BXD quy định về phân cấp công trình xây dựng.

b) Các văn bản pháp lý liên quan đến VKTTĐPN: Quyết định số 252/QĐ-TTg (2014) Phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội VKTTĐPN đến năm 2020, định hướng đến năm 2030; Quyết định số 3318/QĐ-BCT (2017) Phê duyệt quy hoạch phát triển công nghiệp VKTTĐPN đến 2025, tầm nhìn đến 2035.

c) Các văn bản pháp lý liên quan đến TCKG theo hướng xanh, hiệu quả năng lượng, bảo vệ môi trường và phát triển bền vững: Luật số 50/2010/QH12 - Luật sử dụng năng lượng tiết kiệm hiệu quả; Luật số 72/2020/QH14 - Luật bảo vệ môi trường; Quyết định số 432/QĐ-TTg (2012) phê duyệt chiến lược phát triển bền vững Việt Nam giai đoạn 2011-2020; Quyết định số 1393/QĐ-TTg (2012) Phê duyệt Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh; QCVN 09:2017/BXD về công trình xây dựng sử dụng năng lượng và hiệu quả; Hội nghị COP26 với cam kết đạt mức phát thải ròng bằng “0” của Việt Nam vào năm 2050; Quyết định số 1658/QĐ-TTg (2021) phê duyệt Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn 2050; Quyết định số 882/QĐ-TTg (2022) Phê duyệt Kế hoạch hành động quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021-2030. Quyết định số 21/2025/QĐ-TTg - Quy định tiêu chí môi trường và việc xác nhận dự án đầu tư thuộc danh mục phân loại xanh.

5.2. Cơ sở lý thuyết

a) Lý thuyết công trình xanh, kiến trúc xanh: Lý thuyết xuất hiện từ khoảng cuối thế kỷ 20 - đầu thế kỷ 21. Lý thuyết về công trình xanh áp dụng trong TCKG XNCN nhẹ nhằm hướng tới việc tận dụng điều kiện tự nhiên và tối ưu các giải pháp kiến trúc, công nghệ, để giảm tiêu thụ năng lượng, nước, vật liệu, sử dụng tài nguyên hiệu quả và hạn chế tác động xấu đến môi trường. 

b) Lý thuyết phát triển bền vững: Năm 1987, báo cáo Brundtland trong Hội nghị Toàn cầu về môi trường và phát triển của Liên hợp quốc đưa ra khái niệm phát triển bền vững [11]. Lý thuyết về phát triển bền vững bao gồm 03 khía cạnh: kinh tế, môi trường và xã hội. Theo đó, TCKG XNCN nhẹ hướng tới phát triển bền vững không chỉ đơn thuần là giải quyết các vấn đề về kỹ thuật, mà còn có trách nhiệm với xã hội và môi trường sinh thái.

c) Lý thuyết kiến trúc sinh khí hậu và lý thuyết thiết kế thụ động: Lý thuyết kiến trúc sinh khí hậu xuất hiện từ năm 1948 qua nghiên cứu của James Marston Fitch về thiết kế thích ứng khí hậu. Lý thuyết thiết kế thụ động là bước phát triển cao hơn của kiến trúc sinh khí hậu, bắt nguồn từ châu Âu từ năm 1970 tại Đức bởi Wolfgang Feist với các nghiên cứu về công trình tiêu thụ ít năng lượng nhưng vẫn đảm bảo tiện nghi nhiệt [9]. Tại VKTTĐPN, tiện nghi nhiệt là yếu tố cần được ưu tiên, do đó thiết kế XNCN nên tận dụng tối đa điều kiện tự nhiên để giảm nhu cầu năng lượng. 

d) Lý thuyết tổ chức môi trường lao động: Gồm các biện pháp nhằm tạo lập môi trường lao động đáp ứng các yêu cầu cho sản xuất và người lao động, từ quy mô đô thị, KCN, XNCN, công trình công nghiệp, đến vị trí làm việc [5]. Áp dụng trong TCKG XNCN nhẹ, lý thuyết này có ý nghĩa thiết kế không gian sản xuất và phục vụ người lao động đáp ứng ở các cấp độ nhằm mang lại điều kiện làm việc chất lượng cho người lao động.

e) Lý thuyết tháp nhu cầu con người của Maslow: Gồm 05 cấp độ và mỗi cấp độ đại diện cho một nhóm nhu cầu của con người, từ đơn giản đến phức tạp [13]. Áp dụng trong TCKG XNCN, ở cấp độ cơ bản, người lao động cần được đáp ứng các yêu cầu về nơi làm việc an toàn, đảm bảo điều kiện vi khí hậu, không gian phục vụ công cộng và sinh hoạt thiết yếu. Ở mức độ cao hơn, người lao động cần có các không gian nâng cao trình độ, chăm sóc sức khỏe, giao lưu, giải trí, sáng tạo và ghi nhận đóng góp.

6. Định hướng giải pháp TCKG XNCN nhẹ theo hướng xanh tại VKTTĐPN

6.1. Định hướng giải pháp bố trí tổng mặt bằng và không gian kiến trúc cảnh quan XNCN nhẹ theo hướng xanh tại VKTTĐPN

Bố trí tổng mặt bằng XNCN có ảnh hưởng rất lớn đến TCKG toàn xí nghiệp theo hướng xanh. Tuỳ thuộc vào quy mô xí nghiệp và yêu cầu chất lượng môi trường bên trong nhà sản xuất để xác định giải pháp hợp khối hay tách khối các hạng mục trong khu vực sản xuất và giữa khu sản xuất với khu vực hành chính, phục vụ công cộng.

Trong các trường hợp đều cần ưu tiên bố trí cạnh dài của nhà sản xuất chính đón gió chủ đạo và tránh hướng có bức xạ mặt trời trực tiếp để hạn chế lượng nhiệt truyền vào bên trong công trình và giúp giảm tải cho các thiết bị điện.

Tổ chức không gian kiến trúc cảnh quan trong XNCN cần được xem xét theo từng khu chức năng. Khu không gian mở, thường đặt trước khối hành chính, nên được đầu tư đa dạng yếu tố cảnh quan và đa dạng sinh học để tạo điểm nhấn.

Tuy nhiên, cây xanh dọc tuyến giao thông cần chọn lọc với mức độ đa dạng sinh học thấp hơn và không gây cản trở vận chuyển hàng hóa của các loại xe chuyên dụng. Nhìn chung, nên ưu tiên thực vật chịu hạn, bản địa hoặc thích ứng, ít rụng lá, tán rậm và nhiều tầng để giảm bụi, tiếng ồn và phù hợp với môi trường sản xuất.

6.2. Định hướng giải pháp tổ chức không gian nhà sản xuất trong XNCN nhẹ theo hướng xanh tại VKTTĐPN

Tổ chức mặt bằng nhà sản xuất nên ưu tiên không gian sản xuất chính, tập trung đông người lao động, tại vị trí thuận lợi về điều kiện tự nhiên. Không gian kho, phụ trợ sản xuất, hành lang và nút giao thông (đối với nhà sản xuất nhiều tầng), thường có mật độ lao động thấp hơn, đóng vai trò như khoảng đệm cho không gian sản xuất chính, nên bố trí ở hướng kém thuận lợi để cải thiện điều kiện cho không gian sản xuất chính.

Giải pháp bao che đối với các XNCN nhẹ sử dụng thông gió và chiếu sáng tự nhiên kết hợp nhân tạo cần ưu tiên thoát nhiệt qua mái đối với nhà một tầng và tầng trên cùng của nhà nhiều tầng bằng hệ thống cửa sổ mái để thoát nhiệt hiệu quả và giảm năng lượng điện làm mát.

Đồng thời, tăng cường chiếu sáng tự nhiên qua tấm lấy sáng và kính tiết kiệm năng lượng, kết hợp sử dụng phần mềm mô phỏng trong thiết kế để lựa chọn thông số phù hợp, tránh chói và đảm bảo quá trình sản xuất. Bên cạnh đó, cần bố trí kết cấu che nắng tại các mặt đứng chịu bức xạ cao nhằm giảm nhiệt nhưng vẫn duy trì thông gió tự nhiên.

Giải pháp công nghệ và vật liệu cần hướng tới nâng cao hiệu quả năng lượng và giảm phát thải thông qua ứng dụng công nghệ thông minh, tự động hoá, giám sát và quản lý năng lượng, kiểm soát môi trường trong công trình.

Đồng thời, cần kết hợp hài hoà giữa thiết kế thụ động và chủ động để tối ưu hiệu quả năng lượng. Về vật liệu, nên ưu tiên vật liệu có nguồn gốc địa phương, thân thiện môi trường và có khả năng tái chế nhằm giảm phát thải CO2 và chất thải xây dựng.

6.3. Định hướng giải pháp TCKG khu hành chính, khu vực phục vụ công cộng và sinh hoạt trong XNCN nhẹ theo hướng xanh tại VKTTĐPN

Không gian hành chính - điều hành trong XNCN nhẹ có thể áp dụng mô hình văn phòng hybrid (kết hợp trực tiếp và trực tuyến), phù hợp với XNCN có vị trí ở xa trung tâm. Bên cạnh các hạng mục thiết yếu, khu phục vụ và sinh hoạt cần được tăng cường với không gian nghỉ giữa ca, thể dục thể thao, giao lưu văn hoá và các tiện ích cho nhóm đối tượng đặc thù, nhằm nâng cao chất lượng phục vụ và gắn kết người lao động với doanh nghiệp.

6.4. Định hướng giải pháp tổ chức giao thông và khu cung cấp - đảm bảo kỹ thuật trong XNCN nhẹ theo hướng xanh tại VKTTĐPN

Giải pháp tổ chức giao thông cần hướng tới mục tiêu giảm phát thải, thông qua việc khuyến khích sử dụng phương tiện sử dụng năng lượng sạch và giao thông công cộng. Các biện pháp có thể áp dụng bao gồm: ưu tiên bố trí chỗ đỗ cho xe điện, xe đạp, đồng thời tổ chức hệ thống xe đưa đón công nhân viên.

Bên cạnh đó, khu vực cung cấp và đảm bảo kỹ thuật cần ưu tiên áp dụng các công nghệ thân thiện với môi trường, đồng thời bố trí hợp lý các hạng mục nhằm hạn chế ảnh hưởng của bụi, khí thải và hóa chất đến các khu vực tập trung đông người trong XNCN.

7. Kết luận

Phát triển kiến trúc XNCN nhẹ theo hướng xanh là xu thế tất yếu nhờ các lợi ích như tiết kiệm năng lượng, bảo vệ môi trường, nâng cao chất lượng không gian làm việc và hình ảnh doanh nghiệp. Quá trình này đòi hỏi sự phối hợp của nhiều bên, từ cơ quan quản lý Nhà nước, chủ đầu tư, doanh nghiệp xây dựng, kiến trúc sư đến người lao động và cộng đồng.

Trong bối cảnh hội nhập, xanh hóa trở thành yếu tố then chốt giúp doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh và đáp ứng mục tiêu phát triển bền vững, hướng tới phát thải ròng bằng “0”. Trong tương lai, XNCN nhẹ sẽ không chỉ là không gian sản xuất đơn thuần mà còn là mô hình đa chức năng tích hợp sản xuất - nghiên cứu - phát triển, trở thành môi trường làm việc thân thiện, gắn kết người lao động và hướng tới tiêu chí ESG (Môi trường - Xã hội - Quản trị).

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tài liệu trong nước
[1] Bộ Xây dựng. QCVN 02:2022/BXD - Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về số liệu điều kiện tự nhiên dùng trong xây dựng, 2022.
[2] Lương Bá Chấn. Quy hoạch thiết kế Tổng mặt bằng xí nghiệp công nghiệp, NXB Xây dựng, tr. 5, 2015.
[3] Chính phủ. Nghị định 06/2021/NĐ-CP: Quy định chi tiết một số nội dung về quản lý xây dựng, thi công xây dựng và bảo trì công trình xây dựng, 2021.
[4] Nguyễn Ngọc Sinh, Trần Hiếu Nhuệ. Doanh nghiệp với thương hiệu xanh cho phát triển bền vững, NXB Chính trị quốc gia sự thật, 2023.
[5] Ngô Thế Thi. Tổ chức môi trường lao động, một bộ phận của văn hoá lao động, Tạp chí Kiến trúc, số 5/2001, 2001.
[6] Thủ tướng Chính phủ. Quyết định 252/QĐ-TTg - Quyết định phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng Kinh tế trọng điểm phía Nam đến năm 2020, định hướng đến năm 2030, 2014.
[7] UBND tỉnh Bình Dương (2022), Quyết định số 3213/QĐ-UBND - Quyết định về việc ban hành sách xanh tỉnh Bình Dương năm 2022.
[8] Viện Quy hoạch xây dựng miền Nam. Điều chỉnh quy hoạch xây dựng vùng TP.HCM đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050, tr.77, 2017.
Tài liệu quốc tế
[9] J Bere. An Introduction to Passive House, RIBA Publishing, tr. 13, 2013.
[10] H.S Park, E.R Rene, S.M Choi, A.S.F Chiu. Strategies for sustainable development of industrial park in Ulsan, South Korea - From spontaneous evolution to systematic expansion of industrial symbiosis. Journal of Environmental Management
Volume 87, Issue 1, tr. 1-13, 2008, doi: 10.1016/j.jenvman.2006.12.045.
[11] United Nations. Report of the World Commission on Environment and Development: Our Common Future, 1987. 
[12] M Yang, H Li, J Li. The Theory and Practice of Evaluating Green Factories in China. South Asian Journal of Social Studies and Economics, Volume 10, Issue 1, tr. 24-33, 2021, doi: 10.9734/sajsse/2021/v10i130253.
[13] Mcleod S (2024), Maslow’s Hierarchy Of Needs. Internet: https://www.simplypsychology.org/maslow.html (truy cập tháng 01/2025).
[14] Bangladesh now boasts a total of 237 LEED Certified Factories. Internet: https://textilefocus.com/bangladesh-now-boasts-a-total-of-237-leed-certified-factories/ (truy cập tháng 03/2025).
[15] Green Building Index. Internet: https://www.greenbuildingindex.org/ (truy cập tháng 01/2025).

Bình luận
Công ty Xe đạp Thống Nhất