Phát triển vận tải đường bộ xanh - thông minh

07:00 02/12/2025
Sau 10 năm thực hiện Chiến lược phát triển dịch vụ vận tải đường bộ giai đoạn 2015 - 2025, lĩnh vực vận tải đường bộ đã đạt được nhiều kết quả tích cực, góp phần quan trọng nâng cao năng lực vận tải quốc gia và từng bước đáp ứng nhu cầu hội nhập quốc tế với tiêu chí giao thông xanh và ITS.
Phát triển vận tải đường bộ xanh - thông minh
Ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý hoạt động kinh doanh vận tải và cải cách hành chính đã góp phần thay đổi diện mạo với việc số hóa các dịch vụ công toàn phần.

Vận tải đường bộ chiếm ưu thế

Từ năm 2015 - 2025, kết cấu hạ tầng giao thông của nước ta đã có những bước phát triển mạnh mẽ, đóng vai trò quan trọng trong thúc đẩy tăng trưởng kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng an ninh. Nổi bật là lĩnh vực đường bộ, với tổng chiều dài mạng lưới đạt khoảng 594.000 km vào năm 2023, trong đó có gần 2.000 km đường cao tốc, tăng mạnh so với khoảng 600 km năm 2015 và cuối năm 2025 sẽ có 3.000 km đường cao tốc.

Nhiều tuyến cao tốc trọng điểm đã hoàn thành và đưa vào khai thác, tiêu biểu như các đoạn tuyến thuộc tuyến cao tốc Bắc - Nam phía Đông. Các tuyến kết nối vùng Tây Nguyên, Tây Bắc, ĐBSCL cũng từng bước được triển khai, tạo động lực phát triển kinh tế liên vùng.

Theo Cục Đường bộ Việt Nam, thực hiện Chiến lược dịch vụ vận tải đường bộ tính đến đầu năm 2025, vận tải đường bộ vẫn đảm nhận hơn 70% khối lượng vận chuyển hàng hóa nội địa. Tính theo tấn.km (khối lượng x quãng đường), thị phần đường bộ vẫn chiếm khoảng 60% vượt xa các phương thức còn lại như đường thủy nội địa (~17%), đường sắt (~2%), hàng hải nội địa (~19%), hàng không (~0,1%). Tuy nhiên, điều này cũng đưa vận tải đường bộ chịu nhiều áp lực như chi phí vận tải cao, ùn tắc tại các cửa ngõ đô thị, phát thải lớn, rủi ro tai nạn giao thông.

Bên cạnh đó, phương tiện vận tải được tăng trưởng về số lượng và chất lượng (khoảng 8 - 10%/năm): Theo thống kê, năm 2013 cả nước có tổng số 121.897 phương tiện kinh doanh vận tải (bao gồm xe khách và xe công-ten-nơ); đến năm 2016, cả nước có tổng số 219.038 phương tiện kinh doanh vận tải, tăng 97.141 phương tiện so với năm 2013.

Tính đến hết năm 2024, cả nước có khoảng 956.062 ôtô kinh doanh vận tải đã lắp đặt thiết bị giám sát hành trình (trong đó 348.450 ôtô vận chuyển hành khách, 607.612 ôtô vận chuyển hàng hóa) với tổng số 100.303 đơn vị kinh doanh vận tải…

Sự xuất hiện loại hình xe hợp đồng ứng dụng công nghệ phần mềm như Grab, Be, Gojek... đã thúc đẩy cạnh tranh và làm thay đổi mạnh mẽ cơ cấu đội xe. Chất lượng phương tiện cũng được cải thiện rõ rệt; nhiều doanh nghiệp đầu tư xe đời mới, trang bị điều hòa, wifi, GPS, camera hành trình, góp phần nâng cao trải nghiệm và an toàn cho hành khách.

Các quy định kỹ thuật được cập nhật theo lộ trình kiểm soát khí thải Euro 4, Euro 5, đặc biệt là với xe tải và xe khách. Một số địa phương đã đưa vào vận hành xe buýt sử dụng nhiên liệu sạch như CNG (Hà Nội, TP.HCM, Cần Thơ), và thí điểm xe buýt điện (VinBus), đánh dấu bước đầu trong quá trình chuyển đổi xanh trong vận tải hành khách công cộng.

Trung tâm Điều hành giao thông thông minh TP Hà Nội. Ảnh: Tạ Hải/báo Hànộimới

Ứng dụng khoa học công nghệ trong quản lý vận tải

Theo Cục Đường bộ Việt Nam, với việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý hoạt động kinh doanh vận tải và cải cách hành chính đã góp phần thay đổi diện mạo với việc số hóa các dịch vụ công toàn phần.

Cụ thể, năm 2009 đã bắt đầu thực hiện việc lắp thiết bị giám sát hành trình (TBGSHT) trên ôtô kinh doanh vận tải, số lượng và đối tượng phải lắp TBGSHT được mở rộng và tăng dần qua từng năm. Hệ thống TBGSHT đối với ôtô kinh doanh vận tải có thể xem xét trên 3 góc độ: Quản lý nhà nước, doanh nghiệp vận tải, và an toàn - xã hội.

Đây là một công cụ chính giúp cho công tác quản lý hoạt động vận tải, giúp cơ quan chức năng giám sát liên tục về vị trí, tốc độ, hành trình, thời gian lái xe… của phương tiện; tạo cơ sở dữ liệu để xử lý vi phạm (quá tốc độ, chạy sai tuyến, quá thời gian lái xe…); Hỗ trợ triển khai các chính sách về an toàn giao thông, giảm thiểu tai nạn; bên cạnh đó giúp cho công tác kiểm soát xe ra/vào cho lực lượng Hải quan, Biên phòng, hỗ trợ cho công tác thu thuế đối với đơn vị kinh doanh vận tải (ngành thuế một số địa phương thông qua thiết bị giám sát hành trình để áp mức thu thuế).

Ngoài ra còn góp phần hỗ trợ công tác điều tra tai nạn giao thông, điều tra, phòng chống tội phạm; hỗ trợ công tác truy viết người bị dịch bệnh, đặc biệt trong thời gian phòng chống đại dịch Covid-19 đã phát huy hiệu quả trong công tác quản lý.

Có thể khẳng định hệ thống TBGSHT đã mang lại hiệu quả rõ rệt trong quản lý và nâng cao an toàn giao thông cho ôtô kinh doanh vận tải. Kết quả 5 năm gần đây cơ quan quản lý đã thu hồi phù hiệu/biển hiệu của 101.262 phương tiện; nhắc nhở/chấn chỉnh 1.132.465 phương tiện; điều tra hỗ trợ tai nạn giao thông khoảng 275 vụ; giảm vi phạm tốc độ bình quân 15 - 20% so với trước khi áp dụng đồng bộ.

Đối với phần mềm dịch vụ công trực tuyến cấp độ 4 về cấp, đổi giấy phép kinh doanh vận tải, đổi biển hiệu, phù hiệu ôtô. Trong đó quản lý, cập nhật toàn bộ cơ sở dữ liệu về tuyến và biểu đồ tuyến vận tải hành khách cố định toàn quốc. Phần mềm dịch vụ công trực tuyến cấp độ 4 về cấp, đổi giấy phép kinh doanh vận tải đường bộ quốc tế và cấp, đổi sổ liên vận quốc tế tham gia Cơ chế một cửa quốc gia và Cơ chế một cửa ASEAN được đưa vào sử dụng từ năm 2018 tại Cục Đường bộ Việt Nam và 63 Sở GTVT (nay là Sở Xây dựng).

Cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin ngày càng mạnh mẽ, trong thời gian gần đây, nhiều doanh nghiệp kinh doanh vận tải bằng xe taxi đã ứng dụng phần mềm điều hành thay thế cho phương pháp điều hành truyền thống (sử dụng bộ đàm).

Bên cạnh đó, trên thế giới cũng như ở Việt Nam đã xuất hiện nhiều phương thức trợ giúp người dùng đặt (gọi) xe một cách nhanh chóng và thuận tiện thông qua các thiết bị thông minh (smartphone). Nổi bật là các ứng dụng Grab, Uber, BE, Emddi,…đã và đang có chiều hướng ngày một phát triển mạnh.

Phát triển vận tải xanh, ITS

Cũng theo Cục Đường bộ Việt Nam, để thực hiện Chiến lược phát triển dịch vụ vận tải trong thời gian tới (tầm nhìn 2050) cần thiết phải xây dựng một chiến lược dịch vụ vận tải toàn diện và bền vững, có tầm nhìn dài hạn, phản ánh đầy đủ những thay đổi trong phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam trong giai đoạn tới.

Chiến lược mới cần phải đáp ứng các yêu cầu phát triển của đất nước; đồng thời giải quyết hiệu quả những tồn tại, hạn chế hiện tại trong lĩnh vực vận tải. Chiến lược này cần đề xuất các quan điểm, mục tiêu và giải pháp cụ thể nhằm phát triển mạnh mạng lưới cao tốc 5.000 km đến năm 2030, phát triển hệ thống dịch vụ vận tải có năng lực, ứng dụng giao thông thông minh (ITS), quản lý vận tải bằng dữ liệu số; chất lượng và hiệu quả cao, an toàn, thân thiện với môi trường trong giai đoạn phát triển tiếp theo.

Đồng thời, cần nghiên cứu để phù hợp với chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Quyết định 876/QĐ-TTg ngày 22/7/2022 phê duyệt Chương trình hành động về chuyển đổi năng lượng xanh, giảm phát thải khí các-bon và khí mê-tan của ngành giao thông vận tải, tăng liên kết vùng, phát triển trung tâm logistics, giảm phụ thuộc vào vận tải đường bộ đơn lẻ.

Để đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và định hướng xanh - thông minh trong giai đoạn đến năm 2030, cần tiếp tục hoàn thiện các cơ chế khuyến khích đầu tư vào lĩnh vực vận tải theo hướng thiết thực, ổn định và hấp dẫn. Nhà nước cần có chính sách tín dụng riêng cho ngành vận tải, đặc biệt là đầu tư vào xe buýt điện, xe tải sạch, trạm sạc, trạm tiếp nhiên liệu CNG; đồng thời, nghiên cứu ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp và khấu hao nhanh cho các phương tiện thân thiện môi trường.

Mô hình PPP cần được áp dụng rộng rãi trong xây dựng bến xe, bãi đỗ, trung tâm logistics, tuyến xe buýt nhanh BRT hoặc metro, với quy trình lựa chọn nhà đầu tư minh bạch, công khai và có cơ chế chia sẻ rủi ro rõ ràng.

Ngoài ra, nên có các chương trình hỗ trợ kỹ thuật cho doanh nghiệp nhỏ, hợp tác xã về nâng cao năng lực quản trị, quản lý tài chính và tiếp cận công nghệ vận tải hiện đại. Chỉ khi có chính sách khuyến khích hiệu quả và lâu dài, lực lượng doanh nghiệp vận tải mới có thể phát triển ổn định, góp phần thực hiện thành công các mục tiêu chiến lược đã đề ra.

Bình luận
Công ty CP Sao Băng Việt Nam Tổng công ty Xây dựng số 1 Công ty Xe đạp Thống Nhất Công ty vcc