Cụ thể, Phó Thủ tướng Chính phủ Bùi Thanh Sơn vừa ký Quyết định số 768/QĐ-TTg ngày 15/4/2025 phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 (Quy hoạch điện VIII).
Mục tiêu của điều chỉnh quy hoạch nhằm cung cấp đủ nhu cầu điện trong nước, đáp ứng mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội với mức tăng trưởng GDP bình quân khoảng 10,0%/năm trong giai đoạn 2026-2030, khoảng 7,5%/năm trong giai đoạn 2031-2050.
Trong đó, điện thương phẩm đến năm 2030 đạt khoảng 500,4 - 557,8 tỉ kWh; định hướng năm 2050 đạt khoảng 1.237,7 - 1.375,1 tỉ kWh.
Điện sản xuất và nhập khẩu đến năm 2030 đạt khoảng 560,4 - 624,6 tỉ kWh; định hướng năm 2050 khoảng 1.360,1 - 1.511,1 tỉ kWh.
Công suất cực đại đến năm 2030 khoảng 89.655 - 99.934 MW; năm 2050 đạt khoảng 205.732 - 228.570 MW.
Phấn đấu đến năm 2030 có 50% các tòa nhà công sở và 50% nhà dân sử dụng điện mặt trời mái nhà tự sản, tự tiêu (phục vụ tiêu thụ tại chỗ, không bán điện vào hệ thống điện quốc gia).
Tiềm năng điện mặt trời của Việt Nam khoảng 963.000 MW (mặt đất là 837.400MW, mặt nước là 77.400 MW và mái nhà là 48.200 MW).
Đến năm 2030, tổng công suất các nguồn điện mặt trời (gồm điện mặt trời tập trung và điện mặt trời mái nhà, không tính đến các nguồn điện mặt trời theo khoản 5 Điều 10 Luật Điện lực số 61/2024/QH15) đạt 46.459 - 73.416 MW; định hướng đến năm 2050, tổng công suất đạt 293.088 - 295.646 MW.
Đến năm 2030, tổng công suất điện gió trên bờ và gần bờ đạt 26.066 - 38.029 MW (tổng tiềm năng kỹ thuật ở Việt Nam khoảng 221.000 MW). Ưu tiên bố trí các nguồn điện gió quy hoạch mới tại các địa phương có tiềm năng gió tốt, điều kiện kinh tế khó khăn.
Tổng công suất điện gió ngoài khơi phục vụ nhu cầu điện trong nước đạt khoảng 6.000 - 17.032 MW, dự kiến vận hành giai đoạn 2030 - 2035. Định hướng đến năm 2050 đạt 113.503 - 139.097 MW.
Ước tính công suất nguồn điện gió ngoài khơi để sản xuất năng lượng mới vào khoảng 15.000 MW vào năm 2035 và khoảng 240.000 MW vào năm 2050.
Giai đoạn 2026-2030, tổng vốn đầu tư phát triển nguồn và lưới điện truyền tải tương đương 136,3 tỉ USD, trong đó đầu tư cho nguồn điện khoảng 118,2 tỉ USD, cho lưới điện truyền tải khoảng 18,1 tỉ USD.
Định hướng giai đoạn 2031-2035, ước tính nhu cầu vốn đầu tư phát triển nguồn và lưới điện truyền tải tương đương 130,0 tỉ USD, trong đó đầu tư cho nguồn điện khoảng 114,1 tỉ USD, cho lưới điện truyền tải khoảng 15,9 tỉ USD, sẽ được chuẩn xác trong các quy hoạch tiếp theo.
Định hướng giai đoạn 2036-2050, ước tính nhu cầu vốn đầu tư phát triển nguồn và lưới điện truyền tải tương đương 569,1 tỉ USD, trong đó đầu tư cho nguồn điện khoảng 541,2 tỉ USD, cho lưới điện truyền tải khoảng 27,9 tỉ USD, sẽ được chuẩn xác trong các quy hoạch tiếp theo.
Quy hoạch điện VIII ưu tiên phát triển mạnh các nguồn năng lượng tái tạo phục vụ sản xuất điện, đạt tỷ lệ khoảng 30,9 - 39,2% vào năm 2030, hướng tới mục tiêu tỷ lệ năng lượng tái tạo 47% với điều kiện các cam kết theo Tuyên bố chính trị về thiết lập Quan hệ đối tác chuyển đổi năng lượng công bằng với Việt Nam (JETP) được các đối tác quốc tế thực hiện đầy đủ, thực chất. Định hướng đến năm 2050, tỷ lệ năng lượng tái tạo lên đến 67,5 - 71,5%.
Với nhiệt điện than, chỉ thực hiện tiếp các dự án đã có trong Quy hoạch điện VII điều chỉnh và đang đầu tư xây dựng đến năm 2030. Chuyển đổi nhiên liệu sang sinh khối/amoniac với các nhà máy đã vận hành được 20 năm và dừng hoạt động các nhà máy có tuổi thọ trên 40 năm.
Đồng thời, xây dựng hệ thống lưới điện thông minh, đủ khả năng tích hợp, vận hành an toàn hiệu quả nguồn năng lượng tái tạo quy mô lớn.

Giai đoạn 2026-2030, tổng vốn đầu tư phát triển nguồn và lưới điện truyền tải tương đương 136,3 tỉ USD, trong đó đầu tư cho nguồn điện khoảng 118,2 tỉ USD, cho lưới điện truyền tải khoảng 18,1 tỉ USD. 

