Xây dựng 4.0

Phương pháp đào tạo trực tuyến trong bối cảnh cách mạng công nghệ 4.0

Phương pháp đào tạo trực tuyến trong bối cảnh cách mạng công nghệ 4.0

Trần Ngọc Thanh Trang  Trần Ngọc Thanh Trang - 07:01, 22/11/2023

Tạp chí Xây dựng - Bộ xây dựngChuyển đối hình thức đào tạo trực tiếp sang trực tuyến không chỉ chuyển đổi một cách cơ học mà đòi hỏi sự đổi mới toàn diện từ: chương trình, quy trình đào tạo, phương pháp quản lý và phương pháp đào tạo, đảm bảo theo chuẩn cận CDIO.

1. Đào tạo trực tuyến (ĐTTT) là xu hướng tất yếu trong bối cảnh cách mạng công nghệ 4.0

Vào những năm gần đây, cùng với sự bắt đầu công nghiệp 4.0, đặc biệt là hệ thống kết nối qua mang internet (IoT - viết tắt cụm từ “Internet of Things”), thì những kỹ năng cần thiết hàng đầu của mỗi cá thể trong công nghiệp 4.0 đến năm 2020 bao gồm: kỹ năng giải quyết các vấn đề phức tạp, tư duy hệ thống, tư duy phản biện, sáng tạo, quản lý nhân sự, làm việc nhóm...

Giáo dục 4.0 được hiểu là một hệ sinh thái mà ở đó mọi người có thể cùng dạy và học ở mọi nơi, mọi lúc với các thiết bị kết nối để tạo ra việc học tập được cá thể hóa. Hệ sinh thái mới này biến đổi tổ chức giáo dục thành một hệ sinh thái tạo sản phẩm sáng tạo mang tính cá thể với thành tựu lĩnh hội kiến thức và năng lực đổi mới, sáng tạo riêng của từng cá nhân trong hệ sinh thái này.

Có thể nói sự sáng tạo, đổi mới chính là nền tảng của giáo dục 4.0 xuất phát từ yêu cầu của công nghiệp 4.0 dẫn tới nhu cầu phát triển giáo dục đại học và chương trình đào tạo mới (giáo dục 4.0); sự cần thiết phải xây dựng hệ thống đảm bảo chất lượng giáo dục đạt chuẩn; xây dựng khung chương trình đào tạo kết nối giữa nhà trường, doanh nghiệp và cơ quan quản lý nhà nước... Đây cũng chính là những mục tiêu của giải pháp chuẩn đầu ra CIDO.

Theo cách tiếp cận CDIO, học viên sẽ học các kỹ năng cá nhân, kỹ năng giao tiếp, các kỹ năng kiến tạo sản phẩm, xây dựng quy trình và hệ thống cùng với kiến thức chuyên ngành trong chương trình đào tạo thực hành chuyên nghiệp. Được gọi là học tập tích hợp, học tập tích hợp có ưu điểm là cho phép học viên sử dụng kép thời gian để vừa học kiến thức, vừa học kỹ năng ứng dụng chuyên ngành. Nhưng để có thể sử dụng công dụng kép của thời gian học tập, điều quan trọng là phải có được phương pháp giảng dạy và học tập mới. Làm sao tận dụng được tối ưu thời gian nhưng không làm nặng thêm về mặt chương trình lí thuyết mới vốn đã dày đặc trong nội chương trình đào tạo.

Theo TS Đỗ Thế Hưng: “Phương pháp đào tạo đòi hỏi kết hợp các vấn đề kỹ thuật nghề nghiệp thực tế vào trong các bối cảnh học thuật chuyên ngành. Ví dụ, các học viên có thể xem xét sự phân tích của một sản phẩm, thiết kế của sản phẩm, trách nhiệm xã hội của người thiết kế ra sản phẩm đó, tất cả trong một bài tập. Các đối tác doanh nghiệp, và các bên liên quan thường rất hữu ích trong việc đưa ra các ví dụ cho những bài tập này. Giảng dạy và học tập dựa trên các phương pháp học tập trải nghiệm chủ động theo mô hình CDIO gồm các phương pháp thu hút sự tham gia của học viên một cách trực tiếp vào các hoạt động tư duy và giải quyết vấn đề”.

Bảng 1. Sự khác biệt của giáo dục truyền thống và giáo dục 4.0

Giáo dục 4.0 tại các trường cao đẳng, đại học không còn quá cứng nhắc và bó buộc như trước kia. Thay vào đó, môi trường học tập sẽ ứng dụng nhiều thiết bị công nghệ, trang bị kỹ thuật nhằm giúp học sinh, sinh viên được trải nghiệm, thực hành, tiếp cận nhiều hơn.

Học tập trong nền giáo dục 4.0 sẽ không chỉ là các buổi học trên lớp, những phòng thí nghiệm mà rộng hơn thế nữa. Học viên sẽ được tham gia vào những phòng ban, bộ máy tổ chức của doanh nghiệp để trau dồi, rèn luyện thêm những kiến thực thực tiễn. Nhờ đó, sau khi ra trường, sinh viên sẽ có tay nghề, kinh nghiệm cùng khả năng thích ứng cao.

Bảng 2: So sánh đặc điểm phương pháp tiêu chuẩn đầu ra CDIO và đặc điểm của nền tảng GD 4.0.

Từ việc tổng quan tình hình các công trình nghiên cứu về ĐTTT của các tác giả trong và ngoài nước, kết hợp với việc thực hiện điều tra khảo sát thực trạng đào tạo lĩnh vực thiết kế nội thất tại Việt Nam, có thể đi đến một số nhận xét chính như sau:

Một là, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của CNTT, ĐTTT đã trở thành xu thế tất yếu của thời đại. Với nhiều ưu điểm, lợi ích vượt trội trong hoạt động giảng dạy như sự linh hoạt và mềm dẻo của hệ thống giáo dục ĐTTT, giảm thiểu các rào cản xuất phát từ tuổi tác, vị trí địa lý, thời gian và tình trạng tài chính, ĐTTT được coi là mô hình đào tạo phù hợp với thời gian và điều kiện tài chính của người học trong thế kỉ XXI.

Hai là, các nhà nghiên cứu đã đưa ra nhiều quan điểm khác nhau về ĐTTT, tuy nhiên nội hàm nhấn mạnh đến các yếu tố cơ sở hạ tầng như CNTT, mạng Internet, máy tính và yếu tố phương pháp dạy học được sử dụng trong quá trình thiết kế và triển khai các hoạt động dạy học qua ĐTTT.

Cùng với việc ứng dụng CNTT và truyền thông, mô hình ĐTTT với thông tin một chiều đã chuyển sang mô hình thông tin hai chiều hiệu quả giữa người dạy và người học, giữa người học với hệ thống học liệu và giữa người học với cơ sở quản lý đào tạo, xoay quanh ba mối tương tác quan trọng là học viên - nội dung học, học viên - giảng viên và học viên - học viên.

ĐTTT có nhiều lợi thế trong học tập, tuy nhiên mô hình này cũng phải đối mặt với những thách thức nhất định, đặc biệt là kỹ năng sử dụng CNTT của giảng viên và sinh viên. Dù vậy, trong tương lai, các tổ chức giáo dục, đặc biệt là các trường đại học sẽ có sự phát triển hoàn toàn khác so với các tổ chức tiền thân.

Thay vì chỉ đào tạo một nhóm nhỏ học viên, các trường sẽ tổ chức theo một quy mô rộng lớn hơn, với khoảng cách lớn hơn, thậm chí đào tạo theo số lượng lớn trên toàn thế giới. Sự phát triển của hình thức ĐTTT không chỉ là sự bổ sung cho hình thức đào tạo truyền thống, mà nó còn có thể dẫn đến sự thay thế hoàn toàn cho một số tổ chức hoặc CTĐT bởi những ưu thế vượt trội của nó trong lĩnh vực giáo dục.

Ba là, ở Việt Nam, ĐTTT cũng đã trở thành xu hướng tất yếu của giáo dục đại học trở thành một phương thức đào tạo tiên tiến được nhiều trường đại học áp dụng nhằm nâng cao chất lượng đào tạo. Kế thừa các công trình nghiên cứu nước ngoài, các nhà nghiên cứu trong nước đã đưa ra các khái niệm ĐTTT có nội hàm đồng nhất, đồng thời chỉ ra các thành phần cấu thành hệ thống ĐTTT. Đặc biệt, các tác giả nhấn mạnh các ưu điểm, các yếu tố ảnh hưởng và xu hướng phát triển đặc thù của ĐTTT trong bối cảnh nền giáo dục Việt Nam.

Bốn là, việc áp dụng đào tạo trực tuyến sẽ mạng lại nhiều hiệu quả tích cực. giải quyết tốt những bất cập còn tồn tại trong đào tạo theo phương pháp truyền thống nhưng đối với từng ngành học, từng môi trường cụ thể cần có những phương pháp áp dụng phù hợp

2. Đặc thù đào tạo lĩnh vực thiết kế kiến trúc/nội thất

Đào tạo trong lĩnh vực thiết kế kiến trúc/nội thất có nhiều đặc thù riêng biệt việc chuyển đổi hình thức đào tạo ngành học nội thất từ trực tiếp sang trực tuyến đòi hỏi việc nắm được các đặc thù trong lĩnh vực này, cụ thể như:

Tính kết hợp giữa nghệ thuật và kỹ thuật: Lĩnh vực thiết kế kiến trúc/nội thất yêu cầu sự kết hợp giữa khả năng sáng tạo và tư duy thiết kế cùng với kiến thức kỹ thuật về cấu trúc, vật liệu, và quy trình xây dựng.

Thời gian đào tạo dài hạn: Thường thì các chương trình đào tạo thiết kế kiến trúc và nội thất kéo dài nhiều năm, với sự chia thành các giai đoạn như cơ bản, trung cấp và nâng cao, để phát triển từng bước kỹ năng và kiến thức.

Học tập thực hành: Một phần quan trọng của đào tạo trong lĩnh vực này là học tập thực hành. Học viên cần tham gia vào các dự án thực tế, thường dưới sự hướng dẫn của giảng viên hoặc chuyên gia trong ngành.

Sử dụng công cụ và phần mềm chuyên dụng: Người học cần phải nắm vững việc sử dụng các công cụ và phần mềm thiết kế như AutoCAD, Revit, 3D Max, SketchUp, và Photoshop.

Học cách làm việc trong nhóm: Các dự án thiết kế thường đòi hỏi làm việc nhóm, học viên cần phát triển kỹ năng làm việc trong môi trường đồng nghiệp và tương tác tốt với khách hàng, kỹ sư xây dựng, và các chuyên gia khác.

Kiến thức về vật liệu và bền vững: Thiết kế kiến trúc và nội thất ngày càng phải tập trung vào vấn đề bền vững và sử dụng các vật liệu thân thiện với môi trường. Điều này đòi hỏi kiến thức về vật liệu, quy trình sản xuất và kiến thức về bảo vệ môi trường.

Sự cá nhân hóa và tương tác với khách hàng: Các dự án thiết kế thường đòi hỏi sự tương tác chặt chẽ với khách hàng để hiểu rõ nhu cầu và mong muốn của họ, và sau đó tạo ra các giải pháp cá nhân hóa.

Cập nhật xu hướng và sáng tạo: Lĩnh vực này liên tục thay đổi và phát triển với sự xuất hiện của các xu hướng và công nghệ mới. Người học cần phải luôn cập nhật kiến thức và sáng tạo để tồn tại trong ngành.

Thiết kế dựa trên ngữ cảnh và văn hóa: Thiết kế kiến trúc và nội thất thường phải phản ánh văn hóa và ngữ cảnh địa phương. Điều này đòi hỏi học viên hiểu rõ về các yếu tố văn hóa và xã hội cũng như khả năng tạo ra thiết kế phù hợp.

Thiết kế tương lai và công nghệ 4.0: Đào tạo cần phải tích hợp các kiến thức về công nghệ 4.0 như Internet of Things (IoT), thực tế ảo (VR), và trí tuệ nhân tạo (AI) để tạo ra các thiết kế tương lai thông minh và hiệu quả.

Đào tạo trong lĩnh vực thiết kế kiến trúc/nội thất đòi hỏi sự kết hợp giữa kiến thức kỹ thuật, năng lực sáng tạo, và khả năng làm việc trong môi trường đòi hỏi sự tương tác và cá nhân hóa.

Khó khăn và thách thức lớn nhất trong ĐTTT lĩnh vực thiết kế nói chung và ngành thiết kế nội thất nói riêng chính là ở các môn học thực hành, điển hình là hệ thống các học phần đồ án thiết kế như: thiết kế nội thất các công trình nhà ở và công cộng, thiết kế sân vườn, thiết kế đồ đạc, thiết kế kiến trúc, đồ án tổng hợp, đồ án tốt nghiệp…Hệ thống đồ án bao gồm nhiều học phần đồ án với nội dung, mục tiêu kiến thức và kỹ năng khác nhau, trải dài suốt 6 kỳ học, bắt đầu từ kỳ học thứ 4. Học viên ở mỗi giai đoạn khác nhau sẽ có những kính nghiệm, kiến thức và kỹ năng khác nhau, trong đó có kỹ năng tự học.

Hình 1. Hệ thống môn học ĐANT, Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội

Ví dụ, đối với môn học đồ án TKNT, tại Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội, SV  được học trong môi trường studio dựa trên mô hình xưởng thiết kế nhằm thúc đẩy sự trao đổi sôi động của giao tiếp, thông tin và ý tưởng. SV cũng được phân thành nhóm cho mỗi giáo viên hướng dẫn, nhưng do hạn chế về số lượng giảng viên nên mỗi nhóm có khi lên tới 17 SV. Trung bình mỗi SV có thể trao đổi với giáo viên khoảng 15-20 phút/buổi (tùy thuộc mức độ bài làm của SV).

Những hạn chế về cơ sở vật chất như thiếu diện tích, máy chiếu, điều hoà… dẫn tới sự thiếu hiệu quả trong quá trình duyệt đồ án ví dụ: ảnh hưởng của tiếng ồn khi phải học chung nhiều nhóm học trong 1 phòng học, không có bảng hay máy chiếu nên các sinh viên không thể theo dõi quá trình duyệt bài của các bạn khác, cũng như sự thiếu tiện nghi, nóng bức, ngột ngạt cũng gây ảnh hưởng tới sức khoẻ, tâm lý của của cả GV và SV.

Về hình thức đánh giá đồ án: SV không có cơ hội trình bày các sản phẩm đồ án và thuyết trình về đồ án của mình với cán bộ chấm thi hoặc Hội đồng chuyên ngành để được nghe nhận xét đánh giá của cán bộ chấm thi và trả lời các câu hỏi cán bộ chấm thi nêu ra mà chỉ nộp bài cho GV và nhận điểm.

Đây có thể được coi  là môn học điển hình có tính đặc thù và đại diện cho ngành Nội thất  này bởi những lý do sau:

Thứ nhất, giảng dạy đào tạo các ngành thiết kế và mỹ thuật ứng dụng phần nhiều mang tính truyền nghề và nặng về thực hành. Ngay từ tuyển sinh, thí sinh bắt buộc phải thi hoặc kiểm tra những bài thực hành năng khiếu. Trong chương trình đào tạo phần thực hành chiếm từ 70 -75% khối lượng kiến thức toàn khóa và hệ thống môn học ĐATKNT là điển hình trong các môn học thực hành.

Thứ hai, Với đặc thù mang tính thực hành đó người học rất cần có một không gian, địa điểm như thư viện lớn, studio, xưởng thực hành với trang máy móc thiết bị để thể hiện các bài tập, và thiết kế đồ án bởi điều này không phải học sinh và sinh viên nào cũng có điều kiện để trang bị riêng cho mình.

Thứ ba, người thầy là nhân tố trực tiếp “truyền lửa” cho SV trong từng tác phẩm, từng đồ án thiết kế để nuôi dưỡng cảm xúc và sáng tạo. Khuôn mẫu của người thầy ảnh hưởng rất nhiều đến quá trình học tập, tiếp thu kiến thức của sinh viên. Sự thiếu hụt tính tương tác trong giảng dạy trực tuyến thực sự là rào cản quan trọng trong đào tạo ngành thiết kế.

Khác với các ngành khác, người học ngành mỹ thuật ứng dụng được trang bị những phần mềm thiết kế như: Photoshop Illustrator, Autoced, 3D Max, After effect để thiết kế các đồ án ứng dụng. Đây thực sự là nền tảng thuận lợi, đồng thời là cơ hội trong quá trình thực hiện.

3. Đổi mới phương pháp đào tạo lĩnh vực thiết kế nội thất trên môi trường trực tuyến

Việc chuyển đối hình thức đào tạo trực tiếp sang trực tuyến không chỉ chuyển đổi một cách cơ học mà đòi hỏi sự đổi mới toàn diện từ: chương trình, quy trình đào tạo, phương pháp quản lý và phương pháp đào tạo.

Đề suất một số đổi mới căn bản trong phương pháp đào tạo lĩnh vực thiết kế nội thất như sau:

Tăng cường trải nghiệm thực tế trong chương trình học: Điều này có nghĩa là chương trình sẽ tạo ra nhiều khoảng trống cho sinh viên hoàn thiện thông qua thực hành, tư vấn và tham gia vào các dự án hợp tác trong thực tế.

Mô hình học tập theo kiểu dự án: Điều này có nghĩa là SV phải học cách áp dụng các kỹ năng trong một thời gian rất ngắn để giải quyết nhiều tình huống khác nhau. SV nên sẵn sàng làm quen với các kỹ năng dựa trên dự án trong trường đại học, đó là các kỹ năng quản lý tổ chức, kỹ năng quản lý thời gian có thể được giảng dạy như những điều cơ bản mà mọi SV có thể sử dụng trong quá trình học tập của mình.

Cá nhân hóa việc học tập: SV sẽ học cách thích nghi với các công cụ hỗ trợ học tập phù hợp với khả năng của mỗi cá nhân. Mỗi nhóm SV có trình độ khác nhau sẽ được thử thách bởi các nhiệm vụ có mức độ khó khăn khác nhau. Sinh viên có cơ hội thực hành nhiều hơn đối với các học phần khó cho đến khi đạt yêu cầu. SV sẽ được củng cố kiến thức cũng như có được kinh nghiệm tích cực trong quá trình học tập độc lập của mình, họ sẽ có động lực hơn cũng như tự tin hơn về khả năng học tập của mình. Hơn nữa, giảng viên sẽ dễ dàng thấy được trình độ của từng SV để can thiệp và giúp đỡ kịp thời.

SV tham gia vào quá trình hình thành chương trình đào tạo: Một chương trình hiện đại, cập nhật và hữu ích chỉ khi có sự tham gia đồng thời của các chuyên gia, các nhà tuyển dụng và chính các bạn SV.

Giảng viên đóng vai trò tư vấn: SV sẽ ngày càng độc lập hơn trong việc học tập của mình, lấy tự học là chính, giáo viên như một người hướng dẫn và là một tâm điểm trong nguồn dữ liệu thông tin khổng lồ mà SV sẽ phải đi qua.

Về kết quả đầu ra, đối với SV ngành thiết kế nội thất, việc kiểm tra đánh giá nên tập trung vào khả năng áp dụng kiến thức vào thực tế của SV, thông qua các dự án tại cơ sở thực địa, và có thể đo lường được trong suốt quá trình học tập.

Như vậy, đối tượng tham gia hoạt động đào tạo môn học đồ án theo mục tiêu đáp ứng chuẩn CDIO không chỉ có giảng viên và SV ngành Nội thất mà còn có các chuyên gia, các khách mời đến từ các doanh nghiệp, các cơ quan quản lý nhà nước hoặc cựu sinh viên, do đó hệ thống LMS cần phải có chức năng phê duyệt cho các tài khoản ngoài tổ chức tham gia vào lớp học.

Thiết kế nội thất có mối liên hệ chặt chẽ với lĩnh vực kiến trúc cũng như các ngành nghệ thuật khác như mĩ thuật, điêu khắc, tạo dáng công nghiệp…Trên thực thế hành nghề, không phải lúc nào nhóm thiết kế nội thất cũng làm việc độc lập mà đòi hỏi sự phối hợp liên ngành. Do đó, việc học đồ án trực tuyến tạo cơ hội cho SV có thể điều chỉnh tiến độ theo năng lực của bản thân (tất nhiên sẽ cần phải xây dựng khung tiêu chuẩn tối thiểu), do đó giảng viên cần phải cung cấp một kế hoạch nội dung cụ thể cho từng giai đoạn của đồ án để SV có thể chủ động học tập mà vẫn đảm bảo khối lượng.

Phương pháp duyệt đồ án đòi hỏi sự linh hoạt và khoa học giúp SV luôn có được sự giúp đỡ cần thiết trong quá trình học chứ không phải chờ tới từng buổi duyệt theo thời khoá biểu. Điều này cũng song hành với việc phải xây dựng cơ chế mới trong việc tính khối lượng giảng dạy cho giảng viên tham gia giảng dạy môn học đồ án cho phù hợp.

Đồ án là môn học thực hành, tuy nhiên các đề tài của Đồ án nội thất lại rất đa dạng đòi hỏi nền tảng lý thuyết chuyên sâu mà hệ thống các môn học lý thuyết thông thường không thể đáp ứng đủ. Để tiết kiệm thời gian tìm kiếm thông tin cũng là để giúp cho SV có nhiều thời gian hơn cho các kỹ năng triển khai hay sáng tạo, giảng viên cần xây dựng một hệ thống tư liệu phong phú, được kiểm duyệt chất lượng kĩ càng để bổ trợ cho quá trình tự học cho các em. Điều này không những giúp cho SV có được những kiến thức chuẩn mà còn giúp cho giảng viên dành phần lớn thời gian trên lớp cho hoạt động trao đổi, phản biện, nhận xét cho đồ án thay vì phải cung cấp thêm kiến thức lý thuyết.

·Như đã đề cập, ngôn ngữ đặc thù của hoạt động thiết kế nội thất là các hình ảnh đường, nét, màu sắc, ánh sáng…do đó cần có một môi trường cộng tác ảo trên hệ thống LMS để giảng viên và SV có thể cùng diễn tả ý đồ, suy nghĩ của mình về một vấn đề một cách trực quan. Môi trường cộng tác ảo đó bao gồm các chức năng giao lưu trò chuyện trực tuyến và các công cụ làm việc đồng bộ trên thời gian thực. Các công cụ được tích hợp trong hệ thống LMS cho ngành học Nội thất chính là các công cụ phục vụ cho chính công viên thiết kế nội thất -> có thể phát triển hành một mô hình hệ sinh thái thiết kế không chỉ bao gồm: nhà thiết kế- khách hàng - đơn vị thi công mà còn có thể bao gồm cả lĩnh vực đào tạo.

Quá trình phản biện, nhận xét các giai đoạn làm đồ án của SV không chỉ đến từ GVHD mà có thể từ các chuyên gia khách mời, và thậm chí khuyến khích các sinh viên trao đổi, phản biện lẫn nhau.

Việc đánh giá kết quả đồ án của sinh viên cần dựa trên toàn bộ quá trình bao gồm các kĩ năng cứng và cả kĩ năng mềm như: kĩ năng làm việc nhóm, kĩ năng thuyết trình/phản biện, kỹ năng quản lý thời gian, kỹ năng tự học, tự nghiên cứu …

Mặc dù mỗi học phần đồ án đều chung một chủ đề, nhưng các mô hình công trình trong đề tài đó cũng rất đa dạng, nếu mỗi sinh viên lựa chọn một định hướng khác nhau, với trung bình khoảng 18/ SV 1 nhóm, giảng viên cũng rất khó để hưỡng dẫn kĩ lưỡng được cho từng bạn.

Dó đó việc chia nhóm dạy trong một lớp học ĐA không nên chỉ thực hiện cơ học chia đều theo số lượng sinh viên cho số lượng GV mà cần căn cứ theo bản chất của “mô hình học tập nhóm” và mô hình “học tập cộng tác” đã xác định ở trên. Mỗi lớp học đồ án chia thành các nhóm, mỗi nhóm ĐA có nhưng 1 nhiệm vụ thiết kế, một hồ sơ hiện trạng. SV trong mỗi nhóm sau đó có thể lực chọn tự làm cá nhân, hay kết hợp làm việc cùng nhau trong một nhóm nhỏ hơn để giải quyết bài toán thiết kế chung. Như vậy, cùng một đề bài, mỗi SV, hay nhóm SV sẽ có cách giải quyết khác nhau, các em có thể trao luận phản biện bài của nhau…từ đó việc học sẽ trở nên sâu sắc hơn. Giảng viên thay vì phải chia nhỏ thời gian để duyệt về nhiều đề bài thì có thể tập trung phân tích, giảng dạy theo chiều sâu, giúp tối ưu thời gian lên lớp.

4. Kết luận

Những ưu điểm và lợi ích của ĐTTT là không thể phủ nhận, nhưng để đưa ĐTTT áp dụng một cách đồng bộ thì cần thay đổi nhận thức và thói quen của phần lớn người dùng. Việc triển khai ĐTTT có thể thực hiện cần đồng bộ với một số giải pháp như: (1) có các chính sách về giờ giảng, thù lao cụ thể cho các giảng viên tham gia ĐTTT dựa trên mức độ tương tác với học viên;

(2) quy định các mức hỗ thợ thỏa đáng cho việc xây dựng học liệu trực tuyến như bài giảng điện tử (chuẩn SCORM, …);

(3) cho phép giảng viên chủ động hơn trong quản lý lớp học, học viên;

(4), nâng cấp cơ sở hạ tầng hệ thống E-Learning: cho phép đăng tải học liệu với dung lượng lớn hơn, nhiều người sử dụng hơn và hệ thống đáp ứng nhanh hơn;

(5) cải thiện sự thuận tiện và hiệu quả trong quá trình sử dụng hệ thống như: tối ưu hóa giao diện hệ thống, đơn giản hóa các thao tác sử dụng, tương thích tốt với nhiều hệ điều hành cũng như thiết bị;

(6) xây dựng đội ngũ vận hành E-Learning mạnh mẽ, hỗ trợ tốt cho giảng viên/nhân viên và sinh viên.

 

Tài liệu tham khảo

1. Chính phủ (2010), Đề án “Đưa Việt Nam sớm trở thành nước mạnh về CNTT và truyền thông”

2. Chính phủ (2005), Đề án “Đổi mới giáo dục đại học Việt Nam giai đoạn 2006-2020”

3. Chính phủ (2005), Đề án “Phát triển Giáo dục từ xa giai đoạn 2005-2020” kèm theo Quyết định số 164/2005/QĐ-TTg ngày 04/ 7/ 2005.

4. Chính phủ (2005), Chiến lược phát triển công nghệ thông tin và truyền thông Việt Nam đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 ban hành kèm theo Quyết định số 246/2005/QĐ-TTg ngày 06/ 10/ 2005.

5. Trần Khánh Đức (2010), Giáo dục và phát triển nguồn nhân lực trong thế k XXI, NXB Giáo dục, Hà Nội.

6. Lê Huy Hoàng (2011), E-learning và ứng dụng trong dạy học, NXB Đại học Sư phạm Hà Nội

7. Trần Ngọc Thanh Trang (2022), Ứng dụng hệ thống quản trị đào tạo trực tuyến trong đào tạo lĩnh vực thiết kế nội thất, áp dụng với học phần đồ án thiết kế nội thất, Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội

Ý kiến của bạn