1. Khái quát về TP Hải Phòng và khu vực đô thị phía đông
TP Hải Phòng, sau khi hợp nhất với tỉnh Hải Dương để hình thành một đơn vị hành chính cấp tỉnh mới, vẫn giữ nguyên tên gọi. Đây là một trong 6 đô thị trực thuộc Trung ương, với tổng diện tích khoảng 3.194,72 km² và quy mô dân số hơn 4,6 triệu người. Thành phố có 114 đơn vị hành chính cấp xã, bao gồm 67 xã, 45 phường và 2 đặc khu (Bạch Long Vĩ và Cát Hải).
Sau khi sáp nhập và điều chỉnh địa giới hành chính, TP Hải Phòng tiếp giáp với các tỉnh Quảng Ninh và Bắc Ninh ở phía Bắc, Hưng Yên ở phía Tây và phía Nam, phía Đông giáp Vịnh Bắc Bộ (Biển Đông). Hải Phòng là một thành phố cảng lớn, nằm ở vùng Đồng bằng sông Hồng và khu vực Duyên hải Bắc Bộ, phía hạ lưu của hệ thống sông Thái Bình, đồng thời là cửa ngõ ra biển quan trọng của miền Bắc.
Địa hình TP Hải Phòng khá đa dạng và phức tạp, bao gồm cả đất liền và các hải đảo, bị chia cắt bởi sông ngòi và kênh rạch. Khu vực phía Bắc thành phố và các hải đảo có địa hình bán trung du, với các dãy đồi xen kẽ đồng bằng và núi đá vôi, ví dụ như khu vực Thủy Nguyên và Quần đảo Cát Bà.
Khu vực còn lại là vùng đồng bằng thấp, bằng phẳng, nghiêng dần ra biển, chủ yếu được bồi đắp bởi phù sa sông Thái Bình. Thành phố có đường bờ biển dài hơn 125 km cùng nhiều đảo lớn, nhỏ như Cát Bà, Bạch Long Vĩ và Long Châu. Hệ thống sông ngòi dày đặc, chủ yếu thuộc hạ lưu hệ thống sông Thái Bình, chảy ra biển.
Khu vực đô thị phía Đông TP Hải Phòng, trước khi sáp nhập, là phần đô thị lõi của thành phố, bao gồm 7 quận: Hồng Bàng, Lê Chân, Ngô Quyền, Hải An, Kiến An, Dương Kinh và Đồ Sơn. Khu vực này có diện tích khoảng 263,2 km² với quy mô dân số khoảng 836.000 người.
Địa hình tại đây khá bằng phẳng, cốt san nền hiện trạng tương đối thấp và được bao bọc bởi 4 con sông chính: Sông Bạch Đằng, Sông Cấm, Sông Lạch Tray và Sông Văn Úc. Do đó, hệ thống thoát nước đô thị chịu ảnh hưởng lớn từ chế độ thủy, hải văn.
2. Hiện trạng hệ thống thoát nước khu vực đô thị phía đông TP Hải Phòng
Hệ thống thoát nước khu vực đô thị phía Đông TP Hải Phòng được xây dựng từ thời Pháp. Qua nhiều thời kỳ, chính quyền thành phố đã quan tâm cải tạo và nâng cấp, nhưng hệ thống vẫn còn chắp vá, thiếu đồng bộ. Hiện nay, mạng lưới thoát nước tại khu vực này đan xen giữa cống cũ và mới, đồng thời vẫn sử dụng hệ thống chung cho cả nước mưa và nước thải sinh hoạt, khiến khả năng tiêu thoát nước không đồng đều.
Mạng lưới cống có kích thước đường cống nhỏ (D400 ÷ D1000) chiếm tỷ lệ lớn (chiếm khoảng 82,66%), cống trục loại từ D1200 ÷ D2000 chiếm tỷ lệ thấp (khoảng 17,34% tổng chiều dài hệ thống thoát nước). Mật độ đường cống thoát nước của 7 quận chỉ đạt 712,1 km/263,2 km2 = 2,7 km/km2 thấp hơn so với chỉ tiêu theo quy định (đối với đô thị loại I: chỉ tiêu tối thiểu ≥4 km/km2).
Các công trình thoát nước đầu mối có: 86,5 ha hồ điều hòa; 3 mương thoát nước chính (mương thoát nước Tây Nam, mương thoát nước Đông Bắc và mương thoát nước An Kim Hải); 18 cống ngăn triều; 6 trạm bơm thoát nước (trong đó 3 trạm đã xây dựng nhưng chưa bàn giao đưa vào vận hành); trên 794,2 km đường cống các loại; khoảng 39.224 ga cống các loại; trên 170 van phai tại các miệng xả ra mương, hồ và sông. Các công trình này hiện nay vẫn đang vận hành ổn định để tiêu thoát nước cho khu vực đô thị phía Đông TP Hải Phòng.
Một số dự án lớn, trọng điểm được chính quyền thành phố đầu tư cho hệ thống thoát nước đô thị bao gồm: (1) Dự án Thoát nước và Vệ sinh TP Hải Phòng (Dự án thoát nước 1B). Tổng mức đầu tư dự án là 723.730 triệu đồng. Nguồn vốn vay ODA Phần Lan. Chủ đầu tư thực hiện dự án là Công ty Thoát nước Hải Phòng (nay là Công ty TNHH MTV Thoát nước Hải Phòng).
Dự án bắt đầu từ năm 2000 và hoàn thành năm 2007. (2) Dự án thoát nước mưa, nước thải và quản lý chất thải rắn Hải Phòng, giai đoạn 1. Tổng mức đầu tư dự án là 4.711.519 triệu đồng. Nguồn vốn vay ODA Nhật Bản, Chủ đầu tư thực hiện dự án là Ban Quản lý dự án phát triển đô thị và đầu tư xây dựng công trình dân dụng.
Dự án bắt đầu từ năm 2020 và hoàn thành năm 2021 (3) Dự án nâng cấp cơ sở hạ tầng khu dân cư thu nhập thấp đô thị Hải Phòng. Tổng mức đầu tư hơn 53 triệu USD do Hiệp hội phát triển quốc tế thuộc Ngân hàng Thế giới (World Bank) tài trợ. Chủ đầu tư là Ban quản lý Dự án nâng cấp đô thị Hải Phòng. Dự án bắt đầu năm 2001 và hoàn thành năm 2014.
Các dự án đã góp phần cải thiện đáng kể năng lực tiêu thoát nước của hệ thống khu vực này. Tuy nhiên, các dự án mới chủ yếu tập trung vào nạo vét bùn trong hệ thống thoát nước. Ngoài ra, hầu hết các dự án chưa được thiết kế hay tính toán đến các yếu tố biến đổi khí hậu và nước biển dâng, nên năng lực tiêu thoát nước hiện trạng chưa đủ đáp ứng cho những trận mưa có cường độ trên 100 mm trong những năm gần đây.
3. Tác động của biến đổi khí hậu và nước biển dâng đối với hệ thống thoát nước của khu vực đô thị phía đông TP Hải Phòng
Theo tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế-OECD, Việt Nam được đánh giá là một trong 10 quốc gia trên thế giới bị đe dọa nhiều nhất của biến đổi khí hậu. Với 125 km đường bờ biển, nhiều hòn đảo lớn, nhỏ, Hải Phòng cũng được xem là tâm điểm của hiện tượng thời tiết cực đoan như bão, áp thấp nhiệt đới, dông lốc, đặc biệt là phải đối mặt với tình trạng xâm nhập mặn tại các vùng cửa sông, nguồn nước ngầm bị nhiễm mặn và cả hiện tượng thuỷ triều đỏ tại một số vùng biển.
Các chuyên gia đánh giá Hải Phòng là một trong 13 thành phố cảng lớn trên thế giới có tỷ lệ tăng tài sản bị thiệt hại cao nhất đến năm 2070 do biến đổi khí hậu (OECD, 2016 - Nghiên cứu Tăng trưởng xanh ở Hải Phòng, Việt Nam).
Trong 57 năm gần đây (1961-2017), nhiệt độ trung bình năm trên địa bàn thành phố tăng khoảng 0,83 °C, trong khi mực nước ven biển tăng khoảng 2,8 mm/năm. Biến đổi khí hậu và nước biển dâng đã gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường sinh thái, các hoạt động kinh tế - xã hội và đời sống của người dân trên địa bàn thành phố.
Trong 3 năm trở lại đây, trên địa bàn TP Hải Phòng, các hiện tượng thời tiết cực đoan xảy ra ngày càng nhiều. Mùa mưa bão bắt đầu sớm và kết thúc muộn hơn bình thường. Mặc dù số lượng cơn bão trong năm không thay đổi, nhưng cường độ bão tăng mạnh, bao gồm cả siêu bão và lốc xoáy gây thiệt hại lớn cho dân sinh, điển hình như lốc xoáy ở An Lư (Thủy Nguyên), siêu bão Hải Yến (2013) và siêu bão Rammasun (2014).
Sau cơn bão số 3 năm 2014, tại biển Đồ Sơn xuất hiện hiện tượng dị thường chưa từng có: nước biển dâng cao kéo dài suốt 12 tiếng sau khi bão đổ bộ, với độ cao sóng hơn 1 m. Cùng với đó, các hiện tượng nhiệt độ tăng, lượng mưa thay đổi, mực nước triều tăng cũng ngày càng khốc liệt và khó lường nên nguy cơ diễn ra tổ hợp Lũ sông + Mưa + Bão + Triều dễ hình thành và kết hợp với địa hình thấp dẫn đến ngập lụt khu vực đô thị thành phố, nhất là khu vực đô thị phía Đông TP Hải Phòng.
Vào sáng ngày 14/10/2025, TP Hải Phòng ghi nhận một trận mưa kéo dài hơn 4 giờ, với lượng mưa đến 11 giờ đạt khoảng 115 mm (theo thống kê của Công ty TNHH MTV Thoát nước Hải Phòng). Thời điểm bắt đầu trận mưa trùng với lúc thủy triều dâng cao, đạt đỉnh vào trưa cùng ngày.
Sự kết hợp giữa lượng mưa lớn và triều cường khiến hệ thống thoát nước khu vực đô thị phía Đông gần như tê liệt, dẫn đến ngập lụt trên diện rộng tại nhiều tuyến đường, trong đó có các phường Hồng Bàng, Hồng An, Lê Chân, An Biên, Ngô Quyền, Gia Viên, Hải An và An Hải, như đã được đưa tin rộng rãi.
Tình trạng ngập lụt trên diện rộng gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của người dân đô thị. Do hệ thống thoát nước hiện vẫn là hệ thống chung, khi ngập lụt xảy ra, nước thải sinh hoạt không được thu gom sẽ phát tán ra môi trường, tiềm ẩn nguy cơ ô nhiễm và phát sinh dịch bệnh.
Bên cạnh đó, tại một số tuyến đường huyết mạch với lưu lượng phương tiện cao, bao gồm cả xe siêu trường, siêu trọng, ngập nước kéo dài cùng mật độ giao thông lớn sẽ dẫn đến ùn tắc, làm hư hỏng phương tiện và phá vỡ kết cấu mặt đường, khiến các tuyến đường nhanh chóng xuống cấp.
4. Hiện trạng công tác quản lý thoát nước khu vực đô thị phía đông TP Hải Phòng
(1) Đơn vị trực tiếp quản lý, vận hành hệ thống thoát nước là Công ty TNHH MTV Thoát nước Hải Phòng. Công ty có trách nhiệm tổ chức bộ máy, bố trí nhân sự thường trực để bảo đảm sự vận hành liên tục của các công trình thoát nước đầu mối như trạm bơm nước mưa, trạm bơm nước thải, cống ngăn triều, và duy tu, nạo vét bùn mạng lưới ga, cống hiện trạng, mương thoát nước, hồ
điều hòa.
(2) Quản lý nhà nước đối với hệ thống thoát nước đô thị TP Hải Phòng thuộc Sở Xây dựng Hải Phòng. Sau khi Nghị định số 80/NĐ-CP ngày 06/8/2014 của Chính phủ về thoát nước và xử lý nước thải có hiệu lực, UBND TP Hải Phòng đã ban hành Quyết định số 47/2017/QĐ-UBND ngày 29/12/2017 về quản lý hoạt động thoát nước đô thị trên địa bàn thành phố. Quyết định này giao Sở Xây dựng Hải Phòng vừa là cơ quan quản lý, vừa là chủ sở hữu hệ thống thoát nước đô thị.
Ngoài việc tổ chức đấu thầu để lựa chọn đơn vị vận hành, bảo trì và bảo vệ hệ thống thoát nước đô thị theo quy định của Nghị định số 32/2019/NĐ-CP ngày 10/4/2019, Sở Xây dựng Hải Phòng còn là cơ quan đầu mối tham mưu và giúp việc cho UBND TP Hải Phòng trong quản lý nhà nước đối với hệ thống thoát nước đô thị.
Cụ thể, quy hoạch thoát nước đô thị, quản lý đầu tư xây dựng công trình thoát nước, ban hành cơ chế chính sách liên quan đến hoạt động thoát nước của thành phố, liên quan đến chất lượng dịch vụ thoát nước và giá dịch vụ thoát nước.
5. Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý hệ thống thoát nước đô thị phía đông TP Hải Phòng
5.1. Nhóm giải pháp phi công trình
a) Rà soát lại quy hoạch đô thị, đặc biệt là các quy hoạch thoát nước
Theo số liệu thống kê trong 30 năm gần đây, số lượng cơn bão cấp 4 và cấp 5 đã tăng gấp đôi. Các cơn bão và hiện tượng thời tiết cực đoan thường gây mưa lớn, kết hợp với triều cường, dẫn đến ngập lụt trên diện rộng, làm tổn thất cơ sở hạ tầng kinh tế và phát sinh các vấn đề xã hội.
Do đó, một trong những giải pháp quan trọng trong phòng chống thiên tai và ngập lụt đô thị, cũng như ứng phó với biến đổi khí hậu và nước biển dâng, là trong quá trình quy hoạch cần tính toán kỹ lưỡng và có giải pháp hệ thống tiêu thoát nước phù hợp với cao độ nền hiện trạng đô thị, định hướng phát triển đô thị và các kịch bản biến đổi khí hậu.
Hiện nay, quy hoạch thoát nước của TP Hải Phòng đã được phê duyệt thông qua các quyết định sau: Quyết định số 510/QĐ-UBND ngày 08/03/2018 về Quy hoạch cao độ san nền và thoát nước mặt đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2050; Quyết định số 626/QĐ-UBND ngày 27/03/2018 về Quy hoạch thoát nước thải TP Hải Phòng đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2050.
Tuy nhiên, hai quy hoạch này hiện chưa theo kịp tốc độ đô thị hóa và sự phát triển của thành phố, đặc biệt sau khi sáp nhập với tỉnh Hải Dương. Do đó, việc rà soát, cập nhật, bổ sung và điều chỉnh quy hoạch là cần thiết, đồng thời phải tính đến tác động của biến đổi khí hậu và nước biển dâng, theo một số nội dung sau:
- Điều tra, khảo sát và đánh giá thực trạng điều kiện tự nhiên - kinh tế xã hội và hệ thống hạ tầng kỹ thuật của khu vực lập quy hoạch;
- Nghiên cứu, đánh giá các điều kiện thủy văn, khí hậu, hiện trạng sông ngòi, ao hồ, các dữ liệu chất lượng nước của các sông, hồ;
- Nghiên cứu, đánh giá tổng hợp và toàn diện hiện trạng thoát nước bao gồm mạng lưới, các công trình đầu mối thoát nước, đặc biệt, khả năng tiêu thoát nước mưa, nước thải và ngập úng đô thị, khả năng tích hợp đấu nối thoát nước giữa khu vực lập quy hoạch và vùng phụ cận.
- Rà soát, lựa chọn các tiêu chí kinh tế kỹ thuật của hệ thống thoát nước;
- Xây dựng bản đồ hiện trạng ngập úng đô thị. Trên cơ sở bản đồ ngập úng đô thị phân tích các yếu tố gây ngập úng, các khu vực ngập hoặc khu vực có nguy cơ ngập; tình hình ô nhiễm môi trường;
- Xác định các lưu vực thoát nước, dự báo tổng lượng nước mưa, nước thải;
- Lựa chọn mô hình thoát nước, phân tích thủy văn, thủy lực của các giải pháp thoát nước mưa và giải pháp thoát nước và xử lý nước thải;
- Vị trí, quy mô công trình đầu mối, nguồn tiếp nhận và khả năng tiếp nhận. Hướng tuyến, kích thước của mạng lưới cống thoát nước, các điểm xả, cao trình mực nước, lưu lượng xả tối đa, yêu cầu chất lượng nước tại điểm xả.
b) Quản lý cao độ nền theo quy hoạch đô thị và quy hoạch thoát nước đô thị
Cao độ nền vừa đóng vai trò mốc cao độ khống chế các công trình hạ tầng như nền mặt đường, cầu, cống, vừa tạo điều kiện phân chia lưu vực tiêu thoát nước, đảm bảo các yếu tố giảm ngập cho đô thị. Sở Xây dựng, trên cơ sở quy hoạch chuyên ngành thoát nước đã được phê duyệt, có trách nhiệm cung cấp thông tin về cao độ nền đô thị cho các tổ chức và cá nhân khi có nhu cầu.
Các chủ đầu tư xây dựng công trình phải tuân thủ cao độ nền đô thị theo quy hoạch. Cơ quan thẩm định thiết kế cơ sở và cấp phép xây dựng có trách nhiệm kiểm tra sự phù hợp giữa cao độ thiết kế công trình với cao độ nền đô thị.
c) Xây dựng bản đồ ngập lụt đô thị
Giải pháp xây dựng bản đồ ngập lụt đô thị là một quy trình kỹ thuật, ứng dụng công nghệ hiện đại nhằm mô phỏng, dự báo và trực quan hóa các khu vực có nguy cơ bị ngập lụt, mức độ ngập lụt tương ứng với các kịch bản mưa, thủy triều, hoặc sự cố khác nhau.
Trên cơ sở ứng dụng công nghệ GIS (Geographic Information System) để chuyển kết quả mô phỏng (độ sâu ngập, phạm vi ngập, vận tốc dòng chảy, thời gian ngập) thành các lớp bản đồ số:
- Bản đồ độ sâu Ngập: Thể hiện màu sắc khác nhau cho từng mức độ sâu ngập (ví dụ: <0.3m, 0.3-0.6m, >0.6m).
- Bản đồ phạm vi Ngập: Khoanh vùng các khu vực bị ngập.
- Bản đồ rủi ro ngập lụt: Kết hợp bản đồ để xác định khu vực nguy hiểm (độ sâu, vận tốc ngập) với nguy cơ ô nhiễm môi trường do nước thải phát tán và mức độ dễ gây tổn hại để đánh giá tổng thể mức độ rủi ro.
- Hướng tới việc cảnh báo sớm cho người dân đô thị thông qua các phương tiện thông tin đại chúng và thiết bị di động thông minh cá nhân.
d) Tiếp cận mô hình thoát nước bền vững
Một trong những nguyên nhân chính của tình trạng úng ngập ở các đô thị là do hiện tượng bê tông hóa mặt đất trong quá trình đô thị hóa làm giảm nghiêm trọng lượng nước mưa ngấm vào đất, chảy vào ao hồ. Phần lớn nước mưa chảy vào hệ thống thoát nước gây quá tải và ngập úng.
Nếu quá trình đô thị hóa cứ tiếp tục như vậy thì yêu cầu hệ thống thoát nước phải có đường kính mỗi ngày một lớn hơn thì mới đáp ứng được nhu cầu. Điều đó là bất khả thi với tất cả các đô thị vì cần huy động nguồn kinh phí vô cùng lớn để đầu tư xây dựng .
Vì lý do đó, cách tiếp cận thoát nước bền vững (Sustainable Urban Drainage Systems - SUDS) là một trong những giải pháp rất hiệu quả. Nguyên lý của SUDS hướng tới việc duy trì các đặc thù tự nhiên của dòng chảy về dung lượng, cường độ và chất lượng. Hệ thống kiểm soát tối đa dòng chảy từ nguồn, giảm thiểu các khu vực tiêu thoát nước trực tiếp, lưu giữ nước tại chỗ để thấm xuống đất, đồng thời kiểm soát ô nhiễm.
Cách tiếp cận của thoát nước mưa bền vững (SUDS) là thoát chậm, thay vì thoát nhanh, nhằm tránh việc lượng nước mưa tập trung lớn trong thời gian ngắn gây quá tải cho mạng lưới cống thu gom và dẫn đến ngập lụt. Vì vậy, cần tổ chức thoát nước mưa bằng cách kết hợp đồng bộ nhiều biện pháp sao cho dòng chảy được kiểm soát chậm, bao gồm: sử dụng hồ điều hòa và bể ngầm trên diện tích thu gom để truyền dẫn và lưu trữ nước; tận dụng diện tích bề mặt đô thị bằng cách tăng cường thấm nước qua các thảm cỏ và mảng xanh, vừa giảm ngập, vừa bổ sung hiệu quả nguồn nước ngầm.
Các giải pháp SUDS có thể được phân chia thành 3 cấp độ từ thấp đến cao theo chiều dòng chảy nước mưa như sơ đồ sau:

Tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức, ý thức cộng đồng trong việc đồng hành, bảo vệ và phát triển hệ thống thoát nước
Một trong những yếu tố góp phần xây dựng, quản lý và vận hành hệ thống thoát nước hiệu quả tại Nhật Bản là công tác giáo dục và tuyên truyền nâng cao nhận thức của cộng đồng về việc đồng hành, giữ gìn và bảo vệ hệ thống này.
Nhật Bản triển khai hoạt động tuyên truyền với nhiều đối tượng và độ tuổi, đặc biệt chú trọng học sinh cấp 1 và cấp 2. Khi có nhận thức đầy đủ, các học sinh này trở thành tuyên truyền viên tích cực, lan tỏa giá trị của việc bảo vệ hệ thống thoát nước đến gia đình và người thân.
TP Hải Phòng và TP Kitakyushu (Nhật Bản) có mối quan hệ rất mật thiết, đặc biệt trong việc hỗ trợ, chia sẻ và học hỏi kinh nghiệm quản lý, vận hành hệ thống thoát nước. TP Hải Phòng nên đẩy mạnh việc áp dụng mô hình tuyên truyền giáo dục nâng cao nhận thức của cộng đồng, đặc biệt từ học sinh và sinh viên, như mô hình mà Kitakyushu đã và đang triển khai. Việc này sẽ góp phần quan trọng vào việc đảm bảo quản lý và vận hành hiệu quả hệ thống thoát nước của thành phố.
5.2. Nhóm giải pháp công trình
a) Rà soát các dự án thoát nước, bố trí nguồn lực đầu tư cho các công trình thoát nước đầu mối theo quy hoạch đã được phê duyệt, cải tạo các công trình đã bị xuống cấp.
Năng lực tiêu thoát của hệ thống thoát nước hiện trạng khu vực đô thị phía Đông TP Hải Phòng còn hạn chế, do chưa được quan tâm và đầu tư đúng mức. Để nâng cao năng lực tiêu thoát, cần thực hiện các biện pháp: Xây dựng các công trình thoát nước đầu mối, bao gồm trạm bơm cưỡng bức công suất lớn tại các hồ điều hòa và các kênh thoát nước chính, nhằm điều tiết nước khi có mưa lớn kết hợp triều cường; Đầu tư xây dựng các hồ điều hòa theo quy hoạch; Mở rộng các tuyến cống trục tiêu thoát nước theo quy hoạch; Cải tạo và nâng cấp các tuyến cống hiện có nhưng đã xuống cấp hoặc hư hỏng, không đảm bảo năng lực thoát nước.
Trên cơ sở rà soát các dự án thoát nước của thành phố, cần tập trung nguồn lực để xây dựng đồng bộ hệ thống thoát nước theo quy hoạch và kế hoạch. Trong đó, đặc biệt ưu tiên đầu tư và xử lý các điểm ngập úng cục bộ tại khu vực đô thị trung tâm; cũng như các khu dân cư có hệ thống thoát nước cũ, đã xuống cấp.
b) Thiết lập các vùng ngập nước tự nhiên và nhân tạo
Mục đích của việc thiết lập các vùng ngập nước tự nhiên là thúc đẩy khả năng thích ứng với lũ lụt của đô thị. Khả năng thích ứng với lũ của thành phố được hiểu là năng lực chịu đựng ngập lụt, tức là khả năng chứa lũ trong các vùng ngập tự nhiên. Khả năng chịu đựng ngập lụt là yếu tố quan trọng giúp ngăn ngừa thiệt hại do lũ, quyết định việc liệu thành phố có thích nghi hiệu quả với lũ hay không. Thiết lập không gian chứa lũ trên hệ sinh thái đất ngập nước là giải pháp hiệu quả, vừa nâng cao khả năng chịu đựng lũ, vừa phục hồi các loại hệ sinh thái dọc các dòng sông chảy qua đô thị.
Đất ngập nước có chức năng tự nhiên là truyền tải và lưu trữ dòng chảy. Khi có ngập lụt xảy ra, nước tràn mặt được tách ra khỏi dòng chảy chính và được giải phóng chậm sau khi đỉnh lũ trôi qua. Việc bố trí các vùng đất ngập nước rải rác trong đô thị sẽ giúp phân tán dòng chảy và tăng khả năng lưu trữ nước. Một cách sử dụng hiệu quả diện tích đất trống còn lại trong đô thị, đặc biệt tại các khu vực đông dân cư, là xây dựng các bể chứa đa mục đích để làm chậm lũ và trữ nước, phục vụ cho việc điều tiết dòng chảy khi cần thiết.
Dải trung tâm của khu vực đô thị phía Đông TP Hải Phòng đặc trưng bởi dải công viên dài gần 2 km, trải từ hồ Tam Bạc đến cổng cảng Hải Phòng. Nếu tận dụng diện tích công viên này để làm các bể chứa nước mưa chìm bằng nhựa tái chế, đây sẽ là một giải pháp hữu hiệu và bền vững. Giải pháp này vừa giúp giảm tình trạng ngập khi mưa, vừa dự trữ nước tưới cho diện tích cây xanh lớn của dải công viên.
Từ việc vận hành hiệu quả các bể chứa nước mưa chìm trong diện tích công viên và vườn hoa để lưu trữ, tái sử dụng nước mưa tại dải công viên trung tâm, thành phố Hải Phòng có thể nhân rộng mô hình này sang các công viên và vườn hoa có diện tích lớn trên địa bàn. Giải pháp này giúp tăng cường năng lực lưu trữ và điều tiết nước mưa, đồng thời hỗ trợ bổ sung dung tích cho các hồ điều hòa theo quy hoạch nhưng chưa được triển khai thực tế.
c) Đầu tư và ứng dụng công nghệ số để vận hành đồng bộ các trạm bơm, van phai ngăn triều để điều tiết mức nước đệm tại các hồ điều hòa và mương tiêu thoát nước.
Do chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi thủy triều nên mỗi khi có mưa gặp triều cường, khả năng chống ngập của khu vực đô thị lõi của thành phố phụ thuộc vào khả năng lưu trữ của các khoảng 80 ha hồ điều hòa, 3 mương thoát nước chính (Đông Bắc, Tây Nam và An Kim Hải) và sự vận hành 4 trạm bơm nước mưa (Máy Đèn, Vĩnh Niệm, Ba Tổng, Nam Sông Cấm). Vì vậy, việc hạ thấp mực nước đệm trong các hồ điều hòa trước khi có mưa lớn là một trong những giải pháp bắt buộc để tăng năng lực trữ nước.
Tuy nhiên, hiện nay việc vận hành các trạm bơm và van phai ngăn triều chính vẫn còn thủ công và rời rạc, tính đồng bộ chưa cao, nên hiệu quả chưa tối ưu. Việc đầu tư xây dựng một trung tâm thông tin để quản lý và vận hành đồng bộ hệ thống bơm chống ngập, vận hành tự động các van phai chắn triều chính, xây dựng bản đồ ngập lụt, quan sát bằng hình ảnh, đồng thời kết nối với trạm dự báo khí tượng thủy văn và chia sẻ thông tin ngập lụt qua phương tiện thông tin đại chúng hoặc ứng dụng điện thoại thông minh, là một giải pháp hiệu quả đã được nhiều quốc gia áp dụng. TP Hải Phòng nên cân nhắc phương án này để từng bước hiện đại hóa và tự động hóa công tác quản lý, vận hành hệ thống thoát nước.
4. Kết luận
Khu vực đô thị phía Đông của TP Hải Phòng có vị trí chiến lược về chính trị, kinh tế và văn hóa đối với thành phố. Việc nâng cao hiệu quả công tác quản lý và vận hành hệ thống thoát nước khu vực này góp phần cải thiện năng lực tiêu thoát nước hiện trạng, giảm thiểu ngập lụt cục bộ do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu và nước biển dâng. Đồng thời, giải pháp này cũng góp phần duy trì vệ sinh và cảnh quan đô thị, nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân TP Hải Phòng.
* Tiêu đề do Tòa soạn đặt - Mời xem file PDF tại đây
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1]. Nghị định số 80/2014/NĐ-CP ngày 06/8/2014 của Chính phủ về thoát nước và xử lý nước thải.
[2]. Quyết định số 47/2017/QĐ-UBND ngày 29/12/2017 quy định quản lý hoạt động thoát nước đô thị trên địa bàn thành phố Hải Phòng.
[3]. Quyết định số 510/QĐ-UBND ngày 08/3/2018 về Quy hoạch cao độ san nền và thoát nước mặt đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2050; Quyết định số 626/QĐ-UBND ngày 27/03/2018 về Quy hoạch thoát nước thải thành phố Hải Phòng đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2050.
[4]. Quyết định số 323/QĐ-TTg ngày 30/3/2023 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đồ án điều chỉnh Quy hoạch chung thành phố Hải Phòng đến năm 2040, tầm nhìn đến năm 2050.
[5]. Thuyết minh Dự án Thoát nước và Vệ sinh TP Hải Phòng (Dự án thoát nước 1B); Thuyết minh Dự án thoát nước mưa, nước thải và quản lý chất thải rắn Hải Phòng, giai đoạn 1; Thuyết minh Dự án nâng cấp cơ sở hạ tầng khu dân cư thu nhập thấp đô thị Hải Phòng.
[6]. Kế hoạch số 234/KH-UBND ngày 29/9/2020 của UBND TP Hải Phòng về triển khai thực hiện Kế hoạch quốc gia thích ứng biến đổi khí hậu giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050.
[7]. Đánh giá sự thích ứng với ngập lụt đô thị và quản lý thoát nước của Việt Nam dưới tác động của biến đổi khí hậu.
[8]. Nguyễn Việt Anh (2011), Các giải pháp cấp thoát nước đô thị bền vững để ứng phó hiệu quả với biến đổi khí hậu, Tạp chí Quy hoạch kiến trúc, số 02.2011.
[9]. Nguyễn Thị Ngọc Dung (2009) Quản lý hạ tầng kỹ thuật đô thị, Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội, 2009.
[10]. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2016) Kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dâng cho Việt Nam, NXB Tài nguyên môi trường và Bản đồ Việt Nam.
[11]. Nguồn tư ảnh tư liệu do Công ty TNHH MTV Thoát nước Hải Phòng cung cấp.

Bài báo tập trung đánh giá hiện trạng, làm rõ những bất cập, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý thoát nước cho khu vực đô thị phía Đông TP Hải Phòng, đồng thời thích ứng với biến đổi khí hậu và hướng tới phát triển bền vững. 

