Quyết tâm hiện thực hóa hai dự án đường sắt trọng điểm quốc gia

15:37 10/08/2025
Phát triển hệ thống đường sắt hiện đại được xác định là một trong ba đột phá chiến lược, việc Quốc hội thông qua đầu tư hai dự án trọng điểm quốc gia là đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam và Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng đã mở ra bước ngoặt cho hạ tầng giao thông và động lực tăng trưởng dài hạn.
Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng đã xác định tiếp tục 3 đột phá chiến lược, trong đó có quan tâm đúng mức phát triển giao thông đường sắt.

Chiến lược và định hướng phát triển đường sắt

Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng đã xác định tiếp tục 3 đột phá chiến lược, trong đó có quan tâm đúng mức phát triển giao thông đường sắt; triển khai xây dựng đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam, kết nối đồng bộ hệ thống giao thông với các khu vực kinh tế, khu công nghiệp, cảng hàng không, cảng biển; đẩy nhanh tiến độ xây dựng tuyến đường sắt đô thị tại TP Hà Nội, TP Hồ Chí Minh nhằm giải quyết các điểm nghẽn về hạ tầng giao thông.

Kết luận 49 của Bộ Chính trị về định hướng phát triển GTVT đường sắt Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 xác định phát triển GTVT đường sắt hiện đại, đồng bộ nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội nhanh, bền vững, đáp ứng mục tiêu đến năm 2045 nước ta là nước phát triển có thu nhập cao.

Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định số 1769/QĐ-TTG phê duyệt Quy hoạch mạng lưới đường sắt thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050; Chính phủ đã ban hành nhiều Nghị quyết quan trọng để triển khai thực hiện các Nghị quyết của Đảng, Quốc hội với mục tiêu phát triển đường sắt đến năm 2030.

Trong đó xác định, đối với các tuyến đường sắt hiện có gồm 7 tuyến với tổng chiều dài 2.440 km; đảm bảo mục tiêu duy trì các tuyến đường sắt hiện có; từng bước đầu tư, nâng cấp, hiện đại hóa để đáp ứng nhu cầu vận tải hàng hóa và hành khách địa phương; duy trì các nhánh đường sắt nối cảng biển; tiếp tục cải tạo, mở rộng các ga đường sắt kết nối với đường sắt chuyên dùng.

Đối với tuyến đường sắt mới, đầu tư xây dựng mới tối thiểu 9 tuyến đường sắt với tổng chiều dài 2.362 km. Trong đó, tuyến đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam có chiều dài khoảng 1.545 km, hoàn thành công tác chuẩn bị đầu tư, thu xếp nguồn lực để khởi công, hoàn thành trước năm 2035; hoàn thành tuyến đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng trước năm 2030.

Về mạng lưới đường sắt đô thị, hoàn thiện mạng lưới đường sắt đô thị tại Thủ đô Hà Nội với 8 tuyến và TP Hồ Chí Minh với 6 tuyến vào năm 2035, góp phần giải quyết bài toán giao thông đô thị bức thiết.

Về kết nối liên thông, đảm bảo kết nối đường sắt với 100% cảng biển loại I, cảng hàng không quốc tế và các cửa khẩu trọng điểm, tạo thành mạng lưới logistics đa phương thức đồng bộ và hiệu quả.

Tầm nhìn đến năm 2050 là hình thành mạng lưới đường sắt hiện đại, tốc độ cao, bao gồm trục Bắc - Nam, các trục Đông - Tây và các tuyến liên vùng, liên vận quốc tế, có khả năng cạnh tranh sòng phẳng với các loại hình vận tải khác.

Trong bối cảnh đó, việc đầu tư xây dựng các dự án đường sắt trọng điểm quốc gia đã được Chính phủ và các bộ, ngành liên quan khẩn trương triển khai. Quá trình nghiên cứu, đánh giá và hoàn thiện báo cáo tiền khả thi đã được thực hiện một cách kỹ lưỡng, khoa học, có sự tham vấn của các chuyên gia trong nước và quốc tế.

Sau quá trình chuẩn bị công phu nhưng hết sức khẩn trương, BQLDA Đường sắt đã báo cáo Bộ GTVT trước đây (nay là Bộ Xây dựng) trình Chính phủ báo cáo Quốc hội xem xét và thông qua chủ trương đầu tư hai dự án đường sắt quan trọng quốc gia: Dự án đường sắt tốc độ cao trên trục Bắc - Nam tại Nghị quyết số 172/2024/QH15 ngày 30/11/2024 và dự án đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng tại Nghị quyết số 187/2025/QH15 ngày 19/02/2025.

Đặc biệt dự án đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng được BQLDA Đường sắt thực hiện trong thời gian 14 tháng từ khi được giao nhiệm vụ lập Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi đến khi được Quốc hội thông qua.

Việc Quốc hội thông qua chủ trương đầu tư 2 dự án này là một dấu mốc quan trọng, thể hiện quyết tâm chính trị cao của Đảng và Nhà nước trong việc hiện thực hóa các mục tiêu phát triển hạ tầng giao thông, đặc biệt là đường sắt, tạo tiền đề vững chắc cho sự phát triển đột phá của đất nước trong những thập kỷ tới.

Phát triển đường sắt phải đảm bảo kết nối đường sắt với 100% cảng biển loại I, cảng hàng không quốc tế và các cửa khẩu trọng điểm, tạo thành mạng lưới logistics đa phương thức đồng bộ và hiệu quả.

Giải quyết các thách thức

Để thực hiện hoàn thành các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường sắt mà Đảng, Quốc hội, Chính phủ đã chỉ đạo nói chung, dự án Đường sắt tốc độ cao trên trục Bắc - Nam, dự án đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng nói riêng là một thách thức rất lớn phải giải quyết.

Trong đó bao gồm: Nguồn vốn đầu tư lớn; thiếu hụt nhân sự chất lượng cao bao gồm đội ngũ kỹ sư, vận hành, bảo trì và quản lý có chuyên môn sâu, kinh nghiệm trong lĩnh vực đường sắt công nghệ cao.

Cùng với đó là thời gian thực hiện kéo dài để khảo sát, thiết kế, thi công và vận hành; nâng cao năng lực các chủ thể tham gia bao gồm năng lực của tư vấn, nhà thầu và cơ quan quản lý cần đáp ứng yêu cầu dự án quy mô lớn.

Trên cơ sở những bài học kinh nghiệm rút ra trong quá trình triển khai thực hiện các dự án đầu tư kết cấu hạ tầng giao thông đường sắt, để triển khai thành công hai dự án đường sắt trọng điểm quốc gia, cần có một số các giải pháp đột phá, toàn diện

Trước hết là cần hoàn thiện hệ thống pháp luật và thể chế điều phối triển khai dự án. Cần khẩn trương hoàn thiện, đồng bộ hóa hệ thống văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến đường sắt tốc độ cao, đặc biệt là tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về thiết kế, thi công, điện khí hóa, vận hành.

Đồng thời, sớm ban hành các quy định hướng dẫn thi hành Luật Đường sắt (sửa đổi), Nghị định về cơ chế đặc thù cho các dự án đường sắt, tạo hành lang pháp lý thống nhất trong tổ chức đầu tư và quản lý. Thiết lập cơ chế điều phối liên ngành với sự tham gia của các bộ ngành và UBND các tỉnh,thành phố, đảm bảo “6 rõ”: Rõ người - Rõ việc - Rõ tiến độ - Rõ trách nhiệm - Rõ sản phẩm - Rõ thẩm quyền.

Tiếp đó là huy động và phân bổ vốn linh hoạt, bố trí vốn khả thi, linh hoạt; bố trí đủ vốn đầu tư công trung hạn 2026 - 2030 cho công tác GPMB, thiết kế, chuẩn bị kỹ thuật và các hạng mục thiết yếu, khuyến khích huy động các nguồn vốn, vay ưu đãi từ các định chế tài chính, đẩy nhanh đàm phán Hiệp định khung và hợp đồng tài chính.

Đồng thời, đẩy mạnh triển khai PPP có chọn lọc; áp dụng cơ chế khai thác hiệu quả quỹ đất xung quanh các nhà ga đường sắt (TOD). Xây dựng cơ chế ưu đãi cho nhà đầu tư trong và ngoài nước có cam kết chuyển giao công nghệ.

Song hành với đó là phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, kiện toàn BQLDA Đường sắt đủ năng lực điều hành các dự án trọng điểm quốc gia có tính chất phức tạp, cấp bách; nâng cao năng lực cán bộ quản lý nhà nước, kỹ sư thiết kế, kỹ thuật thi công, nhân sự vận hành, và chuyên gia nghiên cứu; phối hợp với các đối tác quốc tế để tổ chức đào tạo TOT, chuyển giao công nghệ, chuẩn hóa nghề nghiệp theo tiêu chuẩn quốc tế; kiện toàn BQLDA Đường sắt phát triển cả về quy mô và chất lượng nhân sự, bảo đảm đủ năng lực điều phối dự án quy mô quốc gia, được phân cấp trực tiếp trong việc quản lý đầu tư.

Đồng thời, cần phát triển công nghiệp đường sắt trong nước gắn với chuyển giao công nghệ. Cần ban hành cơ chế đặt hàng và giao nhiệm vụ cụ thể cho doanh nghiệp trong nước tham gia các khâu: thiết kế, chế tạo thiết bị, vật tư, phụ kiện…; ưu tiên sử dụng sản phẩm trong nước nếu đáp ứng tiêu chuẩn; thúc đẩy nội địa hóa thông qua các điều kiện bắt buộc trong hồ sơ mời thầu EPC, O&M; hình thành các doanh nghiệp nòng cốt chế tạo đầu máy, toa xe, thiết bị tín hiệu, ray tà vẹt, điện khí hóa.

Thành lập Trung tâm nghiên cứu và chuyển giao công nghệ công nghiệp đường sắt quốc gia; xây dựng mô hình tổ hợp sản xuất - đào tạo - nghiên cứu tại một số khu vực chiến lược. Gắn lộ trình đào tạo nhân lực kỹ thuật công nghiệp đường sắt với tiến độ các dự án. Ưu tiên đào tạo kỹ sư làm chủ công nghệ lõi như tín hiệu, thiết kế tàu, bảo trì điện - cơ khí.

Một trong những giải pháp đột phá, toàn diện khác là triển khai đồng bộ các giải pháp cấp bách bảo đảm tiến độ khởi công và tổ chức thực hiện 2 dự án. Cần khẩn trương xác định, công bố và thống nhất hướng tuyến chính thức, bao gồm cả nhà ga, depot, công trình phụ trợ.

Trên cơ sở đó, xác định, công bố và bàn giao mốc giới hướng tuyến chính thức cho các địa phương để triển khai GPMB, thiết lập khu tái định cư. Tổ chức lập, phân chia các gói thầu kỹ thuật, GPMB, xây lắp theo hướng song song - đồng thời - có trọng tâm, tránh tâm lý “đợi tổng thể mới làm”; BQLDA Đường sắt luôn bám sát chỉ đạo của Thủ tướng chính phủ và Bộ Xây dựng: Triển khai quyết liệt, làm việc nào dứt việc đó, từng bước nhưng chắc chắn; bố trí nguồn lực theo thứ tự ưu tiên và điều kiện thực tế. Đẩy mạnh truyền thông chiến lược, chủ động cung cấp thông tin về tiến độ, tác động dự án, chế độ bồi thường, nhằm tạo sự đồng thuận xã hội, nhất là tại các khu vực có GPMB lớn.

Đồng thời tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, mô hình BIM và hệ thống quản lý dự án hiện đại trong công tác quản lý tiến độ, hồ sơ kỹ thuật và điều phối nhà thầu, tư vấn trong và ngoài nước; tổ chức truyền thông chủ động, minh bạch, thường xuyên cập nhật tiến độ, giải đáp vướng mắc từ nhân dân và doanh nghiệp, góp phần tạo đồng thuận xã hội, nhất là trong các khâu dễ phát sinh xung đột lợi ích như GPMB và tái định cư.

Với nhận thức rằng, một quốc gia hiện đại, phát triển ở trình độ cao trước hết phải có một hệ thống giao thông đường sắt đồng bộ - hiện đại, hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông đường sắt ở Việt Nam sẽ tiếp tục được tạo động lực lớn để phát triển.

Theo BQLDA Đường sắt, những gì đã làm được trong thời gian qua mới chỉ là bước khởi đầu cho một hành trình còn rất gian nan, đòi hỏi ngành phải nỗ lực không ngừng, phấn đấu liên tục mới mong có thể hoàn thành những nhiệm vụ lớn hơn, quan trọng hơn trong những năm tới đây.

Bình luận
Thi tuyển trụ sở SHB Công ty Xe đạp Thống Nhất