Suy nghĩ về vị trí đặt tượng đài
Tôi cứ băn khoăn khi được biết Hà Nội có chủ trương di chuyển tượng đài “Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh” ở khu vực đền Bà Kiệu về khuôn viên của Trung đoàn 692, Sư đoàn bộ binh 301, Bộ Tư lệnh Thủ đô, trước ngày 30/9/2026. Dẫu biết rằng, chủ trương di chuyển tượng đài trên là với mục đích trả lại không gian cảnh quan di tích đặc biệt hồ Gươm, sắp xếp lại không gian, chỉnh trang đô thị trung tâm và tạo dư địa cho sinh hoạt văn hóa cộng đồng khu vực quanh hồ Hoàn Kiếm; hơn nữa vị trí tượng đài hiện tại nằm trong khu vực bảo vệ cấp 1 của di tích đền Bà Kiệu, do đó di chuyển tượng đài là cần thiết. Nhưng với tình cảm của một người đã gắn bó gần hết cuộc đời với Hà Nội, tôi rất không muốn di chuyển tượng đài bên hồ Gươm vốn đã quen thuộc với ký ức của tôi và của bao lớp người Hà Nội. Vì thế, trong bài viết này, tôi không bàn đến chuyện “nên hay không nên” di chuyển tượng đài, mà điều tôi quan tâm, đó là địa điểm vị trí đặt tượng đài này sau khi phải di chuyển.
Tượng đài “Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh” do nhà điêu khắc quân đội Kim Giao sáng tác và xây dựng vào năm 1984, đã gắn bó hơn bốn thập kỷ với người dân Thủ đô, nhất là những người sống trong khu vực hồ Gươm, nên việc lựa chọn vị trí mới đặt tượng đài phải thực sự xứng tầm và dễ dàng cho nhân dân tiếp cận chiêm ngưỡng. Tượng đài “Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh” không phải là một câu chuyện riêng của quân đội. Câu nói gắn với thư Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi các chiến sĩ Trung đoàn Thủ đô ngày 27/01/1947 đã trở thành biểu tượng của quân và dân Hà Nội trong những ngày đầu toàn quốc kháng chiến. Đặc biệt, bản thân nhóm tượng cũng mô tả ba thành phần: quân đội - phụ nữ - công nhân, nên nó có tính xã hội rộng hơn nhiều một tượng đài truyền thống quân đội thuần túy. Vì lẽ đó, khi đưa một biểu tượng của ký ức chung của Hà Nội vào một không gian thuộc một đơn vị quân đội, liệu chúng ta có vô tình thu hẹp phạm vi tiếp cận và diễn giải của biểu tượng đó hay không? Đây là câu hỏi cần được thảo luận nghiêm túc.
Tôi rất đồng tình với chỉ đạo của Thường vụ Thành ủy Hà Nội, khi thống nhất về chủ trương di chuyển tượng đài nhưng yêu cầu tiếp tục nghiên cứu các ý kiến góp ý để lựa chọn địa điểm mới tương xứng với giá trị lịch sử, văn hóa và ý nghĩa của công trình. Nơi đặt tượng đài phải có không gian trang nghiêm, thuận lợi cho người dân và du khách tham quan, qua đó phát huy giá trị giáo dục truyền thống, tôn vinh tinh thần "Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh". Phương án cụ thể sẽ được báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định trước khi triển khai. Việc di dời chỉ thực hiện sau khi Hà Nội công bố thông tin quy hoạch khu vực hồ Gươm và hoàn thiện cơ sở vật chất tại địa điểm mới.
Sự chỉ đạo sáng suốt của Thành ủy Hà Nội đã cho thấy vị trí đặt tượng đài quan trọng thế nào trong không gian đô thị Hà Nội.
Trong cấu trúc không gian đô thị, vị trí đặt tượng đài, công trình tưởng niệm rất được quan tâm. Bởi tượng đài không phải là vật thể có thể tùy tiện “đặt ở đâu cũng được”. Tại sao lại nói như vậy. Vì một tượng đài chỉ có giá trị khi đảm bảo các yếu tố về giá trị nghệ thuật - giá trị lịch sử - giá trị ký ức và giá trị của không gian đặt tượng. Thậm chí, với những tượng đài có ý nghĩa lịch sử đặc biệt, không gian có thể làm tăng thêm tầng ý nghĩa cho chính tượng đài. Một tượng đài đặt trong doanh trại quân đội sẽ được nhìn như một biểu tượng truyền thống của lực lượng vũ trang. Nhưng cũng chính tượng đài ấy đặt bên hồ Gươm, trong một không gian công cộng mà hàng ngày người dân Hà Nội, du khách quốc tế đi qua chiêm ngưỡng… lại trở thành ký ức chung của toàn xã hội.
Đó chính là sự khác biệt của vị trí đặt tượng đài. Và điều khác biệt đó cần được lưu ý trong trường hợp di chuyển tượng đài “Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh”.
Một tượng đài đặt trong không gian đô thị sẽ có ba tầng không gian.
Tầng thứ nhất là tác phẩm, gồm hình khối, tỷ lệ, chất liệu, nghệ thuật điêu khắc, nội dung biểu tượng… Tượng “Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh” được nhà điêu khắc tạo nên với hình tượng nghệ thuật rất đẹp, gồm ba nhân vật đại diện cho các chiến sĩ Vệ quốc đoàn, cho người dân Hà Nội và công nhân. Phần bệ tượng đài là dòng chữ vàng đắp nổi “Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh”. Đây là giá trị vật thể.
Tầng thứ hai là không gian kiến trúc cảnh quan. Đây là câu chuyện của kiến trúc đô thị. Có nhiều vị trí đặt tượng đài, như: ở quảng trường; vườn hoa, công viên; trước một công trình kiến trúc lịch sử; bên hồ nước; trong khuôn viên một cơ quan, doanh trại; trong bảo tàng… Đó là giá trị về không gian.
Tầng thứ ba, là không gian xã hội. Khi đó nhà quy hoạch và nhà quản lý đô thị phải trả lời được câu hỏi: Ai nhìn thấy nó? Ai có thể đến gần, có thể dừng lại, suy ngẫm, chụp ảnh và kể cho trẻ em câu chuyện của lịch sử? Đây là giá trị xã hội của ký ức. Và tôi cho rằng, tầng thứ ba này đặc biệt quan trọng đối với một tượng đài chiến tranh cách mạng.
Trên thế giới, các thành phố lớn đều có quy hoạch vị trí tượng đài. Và tượng đài có giá trị lịch sử thường được đặt ở nơi “ký ức gặp đời sống”. Là nơi mọi người dễ nhìn thấy, dễ tiếp cận, chiêm ngưỡng. Còn nếu là tượng đài có ý nghĩa biểu tượng của đô thị thì không gian đặt tượng không chỉ rộng, không bị che khuất mà còn làm cho tượng đài thêm hoành tráng. Washington, D.C. - Thủ đô của nước Mỹ là một ví dụ. Tại đây có National Mall (Quảng trường Quốc gia) là một công viên cảnh quan mang tính biểu tượng nằm ở trung tâm Thủ đô. National Mall không chỉ có nhiều tượng đài, mà nó còn được coi là “cảnh quan ký ức quốc gia”. Đây là một trong những không gian biểu tượng và địa lý trung tâm của Washington, đồng thời là nơi diễn ra các lễ nghi quốc gia, tưởng niệm, hoạt động công cộng và cả biểu đạt chính trị. Điều đáng học hỏi là: người ta không đặt tượng đài vào một chỗ trống bất kỳ; ngược lại, họ thiết kế cả một hệ thống không gian để tượng đài có thể phát huy ý nghĩa, đó là quy hoạch tổng thể tượng đài và bảo tàng (Memorials and Museums Master Plan). Đây là một bản quy hoạch đô thị chiến lược quan trọng của Washington, D.C. được Ủy ban Quy hoạch Thủ đô Quốc gia (NCPC) thông qua năm 2001 nhằm định hướng việc xây dựng các công trình tưởng niệm và bảo tàng mới trong tương lai. Trong bản quy hoạch này, người ta đánh giá địa điểm theo quy mô, giao thông công cộng, tài nguyên lịch sử và bối cảnh khu dân cư. Nước Mỹ còn có những khu vực “reserve” không cho phép xây thêm công trình tưởng niệm nhằm bảo vệ cấu trúc không gian lịch sử.
Đây là một bài học về quy hoạch đô thị và quản trị rất đáng suy nghĩ.
Nhưng thế giới cũng cho thấy một điều rất thú vị, đó là không phải tượng đài nào cũng cần nằm ở quảng trường lớn khi xuất hiện một xu hướng quy hoạch đô thị hiện đại, đó là chuyển từ “monument” (tượng đài) sang “memorial landscape” (cảnh quan tưởng niệm). Mà công trình Vietnam Veterans Memorial ở Washington là một ví dụ nổi tiếng do KTS Maya Lin thiết kế vào năm 1981, khi ấy bà mới 21 tuổi và còn là sinh viên năm cuối của Trường Đại học Yale. Ở đây, Maya Lin không cố tạo ra một tượng đài thật cao để “thống trị” không gian. Ngược lại, công trình đài tưởng niệm chỉ bao gồm hai bức tường liền kề có hình chữ V bắt đầu từ mặt đất, rồi đi xuống dưới và đi lên trở lại mặt đất. Mỗi bức tường dài 75,21 m và được cấu tạo từ 72 tấm đá granit đen được đánh bóng rất kỹ, trên mỗi bức tường được khắc tên những người được vinh danh. Đến với đài tưởng niệm, người xem đi chậm lại, đọc tên những người đã mất được khắc trên tường đá, khẽ chạm vào đó, rồi để lại dưới chân tường tưởng niệm một bông hoa, cái bưu thiếp, hay một con búp bê nhỏ… và lặng trong suy nghĩ! Maya Lin đã rất thành công khi chuyển tải thông điệp “Một vết thương đã khép lại và đang lành” cho nước Mỹ. Tác phẩm nổi tiếng này đã đưa Maya Lin trở thành một trong các kiến trúc sư tài năng nhất của thế kỷ 21.
Tôi thấy cần đặc biệt lưu ý sự khác nhau giữa “không gian công cộng” và “không gian công cộng khu vực hồ Gươm”. Một quảng trường, một không gian công cộng ở Hà Nội đã quan trọng. Nhưng không gian cảnh quan hồ Gươm là một cấp độ khác. Hồ Gươm không đơn thuần là một công viên. Nó là: không gian lịch sử - không gian văn hóa - không gian du lịch - không gian sinh hoạt cộng đồng - không gian chính trị - không gian ký ức của Hà Nội. Do đó, khi một tượng đài đặt tại đây từ 1984, theo thời gian hơn bốn thập kỷ, điều đó có nghĩa là tác phẩm điêu khắc này đã tham gia vào “bộ nhớ đô thị” của Hà Nội. Đây là lý do vì sao tôi rất đồng tình với yêu cầu của Ban Thường vụ Thành ủy rằng địa điểm mới phải được nghiên cứu kỹ và tương xứng với giá trị của công trình. Tuy nhiên, tôi muốn việc di chuyển tượng đài cần được xem xét khách quan dưới góc độ xã hội học. Sau hơn 40 năm, cấu trúc không gian phía Đông hồ Gươm đã thay đổi. Hiện khu vực trung tâm Hà Nội còn có những công trình khác cùng kể câu chuyện về toàn quốc kháng chiến, trong đó có phù điêu “Hà Nội mùa đông 1946” trước chợ Đồng Xuân và một tượng đài “Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh” tại vườn hoa Vạn Xuân (do hai nhà điêu khắc Vũ Đại Bình và Mai Văn Kế sáng tác, khánh thành năm 2004, nhân dịp kỷ niệm 60 năm ngày thành lập Quân đội Nhân dân Việt Nam). Do đó, nếu di chuyển đến địa điểm mới có làm cho giá trị của tượng đài tăng lên hay giảm đi? Khi tượng đài được đưa về một doanh trại quân đội thì sẽ gắn trực tiếp với lực lượng vũ trang Thủ đô, trang nghiêm, dễ bảo vệ; thuận lợi cho giáo dục truyền thống trong quân đội. Nhưng tượng đài sẽ không còn nằm trong đời sống thường nhật của đại đa số người dân Thủ đô, và “ký ức của thành phố” có nguy cơ chuyển thành “ký ức của một thiết chế”. Đó là một sự thay đổi rất tinh tế nhưng rất quan trọng.
Vì thế, cần trả lời vị trí đặt tượng đài có mối liên hệ thực chất với câu chuyện mà tượng đài kể không? Người dân, học sinh, du khách có dễ dàng tiếp cận không? Địa điểm có đủ tầm vóc để mang biểu tượng của Thủ đô không? Có nằm trong mạng lưới các địa điểm ký ức khác của Hà Nội không? Và liệu 30 - 50 năm nữa địa điểm ấy còn phù hợp không?
Đấy là câu hỏi cần sự trả lời của quy hoạch và nhà quản lý!
Câu chuyện di chuyển tượng đài trong khuôn viên đền Bà Kiệu đến địa điểm mới tưởng đơn giản như thực hiện một chủ trương hành chính, nhưng thực tế không như vậy. Nó đòi hỏi sự thận trọng và trách nhiệm rất cao trước lịch sử, trước nhân dân Thủ đô, khi Hà Nội đang thực hiện quy hoạch tổng thể tầm nhìn 100 năm mà trong đó có dự án quy hoạch cải tạo chỉnh trang khu vực phía Đông hồ Hoàn Kiếm.
Tôi hy vọng, nếu có thể hình thành một “Tuyến ký ức 1946 - 1947 của Hà Nội” với Bắc Bộ Phủ - Hàng Đậu - Đồng Xuân - Ô Quan Chưởng - Hoàng thành Thăng Long - các địa điểm chiến đấu 60 ngày đêm bất tử của quân và dân Hà Nội... Trong đó tượng đài “Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh” là một điểm nút ký ức, chứ không đứng đơn độc. Đây sẽ là cách tiếp cận rất phù hợp với tư duy đô thị đương đại.
Chúng ta không bảo tồn ký ức bằng cách đóng khung một di sản, mà bảo tồn bằng cách đưa di sản hòa cùng với đời sống đô thị.







