Thách thức của dòng vốn 15,5 tỷ USD! Thách thức của dòng vốn 15,5 tỷ USD!

Thách thức của dòng vốn 15,5 tỷ USD!

Chiều 01/12/2023 (theo giờ địa phương), nhân dịp tham dự Hội nghị lần thứ 28 các bên tham gia Công ước khung của Liên Hợp Quốc về biến đổi khí hậu (COP28) tại Dubai, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đã công bố Kế hoạch huy động nguồn lực thực hiện Tuyên bố chính trị thiết lập quan hệ đối tác chuyển đổi năng lượng công bằng (JETP) giữa Việt Nam và Nhóm các đối tác quốc tế (IPG).

Cùng với đó, Thủ tướng Phạm Minh Chính đề nghị các bên liên quan nhanh chóng đạt được thỏa thuận để chuyển số tiền cam kết hỗ trợ Việt Nam trị giá 15,5 tỷ USD thành những dự án mang tính đột phá, có ý nghĩa quyết định đối với việc đạt được định hướng chiến lược phát triển năng lượng quốc gia của Việt Nam, với mục tiêu đạt phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050.

Ta có thể hiểu cơ bản rằng, JETP là một trong những cơ chế tài chính cao cấp nhất được thiết kế để chuyển tiền từ các nền kinh tế giàu có sang một số nước đang phát triển, hướng tới mục đích loại bỏ nhiên liệu hóa thạch. 

Lý do là các quốc gia thu nhập trung bình và thấp vừa phải cân bằng các nghĩa vụ chuyển đổi năng lượng với nhu cầu điện ngày càng tăng, vừa phải vật lộn với tình trạng thiếu cơ sở hạ tầng, tài chính của chính phủ chưa mạnh, sự phụ thuộc nghiêm trọng vào than đá, cùng với các ưu tiên nội địa khác. Khu vực này cần được hỗ trợ tài chính và khích lệ để tiếp tục ưu tiên giảm thải các-bon, song song với phát triển kinh tế vĩ mô. Trong khi đó, đây lại là những lợi thế lịch sử các nước giàu được hưởng và không bị vướng bận bởi những cân nhắc về môi trường.

JETP lần đầu tiên xuất hiện trên tiêu đề các cuộc đàm phán về khí hậu do Liên Hợp Quốc chủ trì ở Glasgow vào năm 2021, với sứ mệnh thực hiện công bằng tất cả những điều trên.

Quốc gia đầu tiên được JETP quan tâm là Nam Phi. Năm 2021, Nam Phi đã ký thỏa thuận với gói tài chính JETP trị giá 8,5 tỷ USD.
Tiếp theo là Indonesia với thỏa thuận trị giá 20 tỷ USD được nhất trí vào năm 2022 tại cuộc họp của các nhà lãnh đạo G20 ở Bali đã chia đều cho tài chính công và tư nhân. 

Tháng 12/2022, trong thỏa thuận JETP, Việt Nam đã nhất trí gói 15,5 tỷ USD từ các nhà tài trợ, dẫn đầu là Liên minh châu Âu và Vương quốc Anh, để giúp loại bỏ điện than và trở nên trung hòa các-bon vào năm 2050.

Tháng 6/2023, Senegal trở thành quốc gia thứ tư đạt được thỏa thuận, có khả năng trị giá 2,7 tỷ USD.

Ấn Độ được đưa vào các cuộc thảo luận tiếp theo của JETPs, nhưng New Delhi đã phản đối các thỏa thuận loại bỏ điện than, thay vào đó muốn tập trung vào thu hút đầu tư năng lượng tái tạo…

Với gói tài trợ 15,5 tỷ USD thông qua JETP, các đối tác quốc tế giúp Việt Nam hoàn thiện chính sách, chuyển giao công nghệ, hỗ trợ tài chính cho chuyển đổi năng lượng công bằng; thu hút đầu tư phát triển năng lượng tái tạo, nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng, nâng cấp hạ tầng lưới điện; phát triển các kỹ năng và năng lực cần thiết đối với chuyển đổi công bằng thông qua giáo dục và đào tạo nghề; tăng cường tham gia của khu vực tư nhân; phát triển trung tâm năng lượng tái tạo và hình thành ngành công nghiệp năng lượng tái tạo; thúc đẩy lưu trữ, cất trữ và sử dụng cac-bon, sản xuất thiết bị và pin lưu trữ năng lượng, sản xuất hydrogen xanh, phát triển điện gió ngoài khơi.

Các đối tác cam kết huy động nguồn lực ban đầu 15,5 tỷ USD trong vòng 3 - 5 năm tới để giải quyết nhu cầu cấp bách, mang tính xúc tác cho chuyển đổi năng lượng công bằng của Việt Nam. Trong đó, 7,75 tỷ USD do Nhóm IPG cam kết huy động với điều kiện vay hấp dẫn hơn so với thị trường vốn hiện tại; Liên minh tài chính Glasgow vì mục tiêu phát thải ròng bằng 0 (GFANZ) cam kết huy động ít nhất 7,75 tỷ USD tài chính tư nhân hỗ trợ trực tiếp cho các doanh nghiệp thông qua các khoản đầu tư của các tập đoàn, các doanh nghiệp quốc tế…

Được sự hỗ trợ từ quốc tế là điều đáng mừng nhưng thách thức để thực hiện cam kết không hề nhỏ. 

Theo Kế hoạch huy động nguồn lực được công bố, Việt Nam tập trung vào 8 nhóm nhiệm vụ: (1) Hoàn thiện thể chế, chính sách thúc đẩy chuyển đổi năng lượng; (2) Thúc đẩy chuyển đổi điện than sang năng lượng sạch; (3) Phát triển hệ sinh thái công nghiệp và dịch vụ năng lượng tái tạo; (4) Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả; (5) Nâng cấp hệ thống truyền tải và phân phối điện, đẩy nhanh lộ trình xây dựng hệ thống điện thông minh, phát triển hệ thống lưu trữ năng lượng; (6) Chuyển đổi năng lượng xanh, giảm phát thải khí nhà kính trong ngành giao thông vận tải; (7) Đổi mới sáng tạo, phát triển và chuyển giao công nghệ; (8) Bảo đảm công bằng. 

Nếu ai có những thông tin và hiểu biết nhất định thì có thể dễ dàng thấy rằng, bất cứ nhóm nhiệm vụ nào trên đây với Việt Nam đều cực kỳ nặng nề với những thách thức vô cùng lớn, chẳng hạn như nhóm (2): “Thúc đẩy chuyển đổi điện than sang năng lượng sạch”.
Chắc hẳn nhiều người còn nhớ từ hồi tháng 12/2015, tại Hội nghị lần thứ 21 các bên tham gia Công ước khung của Liên Hợp quốc về biến đổi khí hậu (COP21), Thủ tướng Chính phủ Việt Nam đã cam kết giảm 8% lượng phát thải khí nhà kính vào năm 2030 và có thể giảm đến 25% nếu nhận được hỗ trợ hiệu quả từ cộng đồng quốc tế.

Thế nhưng ngay trong thời gian đó, thực tiễn ở Việt Nam lại dường như đang chứng minh ngược lại. Bởi lẽ tại cuộc hội thảo “Công nghệ nhiệt điện than và môi trường” do Bộ Công Thương tổ chức cho biết, trong tương lai, nhiệt điện than ở Việt Nam vẫn giữ một tỷ lệ trọng yếu, chiếm tới 55% sản lượng điện mỗi năm. Lý do rất đơn giản: không có nguồn điện năng khác thay thế!

Theo quy hoạch khi đó, sản xuất nhiệt điện than đến năm 2020 chiếm khoảng 49,3% điện sản xuất. Cứ ngỡ con số ấy sẽ tụt xuống trong tương lai thì đây, đến năm 2025, riêng điện than có tổng công suất khoảng 45.800 MW, chiếm khoảng 55% điện sản xuất, tiêu thụ khoảng 95 triệu tấn than(!).

Với quyết tâm thực hiện cam kết tại COP21, để có nguồn điện năng khác thay thế, tạo bước đột phá đầu tiên cho việc phát triển năng lượng tái tạo ở Việt Nam, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 11/2017/QĐ-TTg về cơ chế khuyến khích phát triển dự án điện mặt trời, trong đó yêu cầu EVN có trách nhiệm mua toàn bộ lượng điện từ các dự án điện mặt trời nối lưới với giá mua điện tại điểm giao nhận điện là 2.086 đồng/kWh (chưa bao gồm thuế giá trị gia tăng, tương đương 9,35 cent/kWh).

Với “cú huých” về cơ chế ấy, chỉ chưa đầy 3 năm sau, tức là năm 2020, dòng tiền đầu tư vào lĩnh vực này ào ạt chưa từng có. Vốn trái phiếu huy động cho các dự án điện mặt trời lên đến 29.900 tỷ đồng, tăng 254% so với năm 2019. Về tín dụng, tính đến cuối năm 2020, các ngân hàng đã rót 84.000 tỷ đồng cho vay năng lượng tái tạo, phần lớn là cho vay các dự án điện mặt trời. 

Đến COP28, Việt Nam với những cam kết mạnh mẽ hơn, dứt khoát hơn thì việc cơ cấu lại chiến lược phát triển thị trường năng lượng quốc gia tạo nên những hy vọng mới với những bước đột phá mới. 

Tuy nhiên, đến tháng 5/2023, Việt Nam có tổng cộng 29 nhà máy nhiệt điện than đang vận hành, với tổng công suất 26.087 MW, chiếm 32,3% tổng công suất nguồn hệ thống điện; sản lượng điện từ nhiệt điện than năm 2022 chiếm 39,1% điện sản xuất toàn hệ thống.

Trong khi đó, có 6 dự án nhiệt điện than vẫn đang được xây dựng theo các giai đoạn và dự kiến đưa vào vận hành trong giai đoạn 2024 - 2030, với tổng công suất 5.660 MW.

Một thông tin không vui, giữa tháng 10/2023, liên danh Orsted và T&T Group đã thông báo tới UBND tỉnh Hải Phòng và Thái Bình về quyết định chiến lược của Orsted đối với 2 siêu dự án điện gió ngoài khơi có công suất lần lượt 3.900 MW và 3.000 MW.

Orsted xác nhận dừng các hoạt động phát triển dự án tại Việt Nam và không tiếp tục đầu tư cho 2 dự án điện gió ngoài khơi liên danh đang chung tay thời gian qua.

Vậy lý do gì đã khiến một tập đoàn năng lượng tái tạo hàng đầu thế giới như Orsted phải dừng chân tại một thị trường đầy tiềm năng như Việt Nam?

Theo Orsted, vấn đề mấu chốt đang nằm ở tầng vĩ mô quản trị năng lượng quốc gia. Ngay cả sau khi Quy hoạch điện VIII được phê duyệt, thị trường vẫn phải thường xuyên chờ kế hoạch triển khai nhằm xác định phân bổ mục tiêu công suất cho từng thời kỳ cũng như quy định hướng dẫn về cơ chế lựa chọn nhà đầu tư. Do chưa có chính sách rõ ràng, thống nhất nên nhà đầu tư chưa mạnh dạn rót hàng tỷ USD vào các dự án. Hơn nữa, cơ chế lựa chọn nhà đầu tư và cơ chế bán điện vẫn chưa rõ ràng…

Một thông tin khác từ Vietnamnet cũng đáng quan tâm. Dự án điện mặt trời 450 MW là dự án đầu tư có điều kiện được tỉnh Ninh Thuận lựa chọn với tổng mức đầu tư 12.000 tỷ đồng. Theo đó, nhà đầu tư không chỉ làm nhà máy điện mà phải đầu tư xây dựng trạm biến áp 500 KV - đường dây 500 KV Thuận Nam - Vĩnh Tân với tổng kinh phí gần 2.000 tỷ đồng.

Theo tính toán ban đầu, dự án sẽ được khai thác toàn bộ công suất dự án điện mặt trời 450 MW nhằm bù đắp chi phí của nhà đầu tư đã xây dựng trạm 500 KV.

Tuy nhiên, đến nay mới có khoảng 277,88 trên tổng công suất 450 MW của dự án có giá bán điện. Kể từ 0h00 ngày 05/3/2022, dự án này bị dừng khai thác đối với phần công suất 172 MW chưa có cơ chế giá bán điện, tương ứng với 40% công suất của nhà máy điện này (!?).

Hẳn nhiều người còn nhớ, cách đây vừa tròn 10 năm, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 63/2013/QĐ-TTg, trong đó yêu cầu thị trường điện cạnh tranh tại Việt Nam được hình thành và phát triển theo 3 cấp độ: 

1. Thị trường phát điện cạnh tranh (cấp độ 1): Tiếp tục thực hiện thị trường phát điện cạnh tranh đến hết năm 2014.

2. Thị trường bán buôn điện cạnh tranh (cấp độ 2):

a) Từ năm 2015 đến năm 2016: Thực hiện thị trường bán buôn điện cạnh tranh thí điểm;

b) Từ năm 2017 đến năm 2021: Thực hiện thị trường bán buôn điện cạnh tranh hoàn chỉnh.

3. Thị trường bán lẻ điện cạnh tranh (cấp độ 3):

a) Từ năm 2021 đến năm 2023: Thực hiện thị trường bán lẻ điện cạnh tranh thí điểm;

b) Từ sau năm 2023: Thực hiện thị trường bán lẻ điện cạnh tranh hoàn chỉnh.

Có nghĩa là, nếu theo quyết định này, đến ngày 01/01/2024, Việt Nam sẽ có thị trường phát điện cạnh tranh hoàn chỉnh, thị trường bán buôn điện cạnh tranh hoàn chỉnh, thị trường bán lẻ điện cạnh tranh hoàn chỉnh.

Thực tiễn đang cho thấy, tất cả những yêu cầu đó đều vẫn đang là những thách thức lớn trong tương lai.

Phân tích về sự trì trệ này, Cục Điều tiết điện lực (Bộ Công Thương) cho rằng, trong quá trình triển khai thực hiện, nhiều khó khăn, vướng mắc đã nảy sinh, theo đó, thị trường bán buôn điện cạnh tranh hiện đang vận hành ở mức đơn giản hóa do cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin phục vụ vận hành thị trường điện còn đang trong quá trình đầu tư, nâng cấp.

Bên cạnh đó, công tác tái cơ cấu ngành điện còn chậm so với Quyết định 168/QĐ-TTg ngày 07/02/2017 của Thủ tướng Chính phủ (Trung tâm Điều độ hệ thống điện quốc gia chưa chuyển thành đơn vị độc lập, tỷ lệ cổ phần hóa các tổng công ty phát điện còn thấp).

Tỷ trọng các nguồn năng lượng tái tạo tăng cao trong các năm gần đây gây ra nhiều khó khăn cho công tác điều độ, vận hành hệ thống điện và thị trường điện.

Ngoài ra, cơ chế giá bán lẻ điện hiện nay chưa đồng bộ với thực tế phát triển thị trường điện, giá bán lẻ điện chưa được điều chỉnh kịp thời theo các biến động đầu vào của giá nhiên liệu trong khâu phát điện do cần đảm bảo các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô; việc xóa bỏ được bù chéo giữa các nhóm khách hàng, giữa các vùng, miền chưa được thực hiện…

Chỉ lược qua như vậy từ thực tiễn đang cho thấy, nhóm nhiệm vụ (2) “Thúc đẩy chuyển đổi điện than sang năng lượng sạch” ở Việt Nam còn gian nan như thế nào. Và lớn hơn là còn 7 nhóm nhiệm vụ khác nữa, thách thức cũng không hề nhỏ!

Nguyễn Hoàng Linh
Nguyễn Thạc Cường