Mỗi đối tượng quản lý cốt lõi có một mã định danh duy nhất
Bộ trưởng Bộ Xây dựng vừa ban hành Thông tư số 69/2026/TT-BXD quy định về Hệ thống thông tin, Cơ sở dữ liệu cấp nước sạch và thoát nước đô thị.
Thông tư quy định việc xây dựng, quản lý, vận hành Hệ thống thông tin cấp nước sạch và thoát nước đô thị; cấu trúc, nội dung và yêu cầu kỹ thuật của Cơ sở dữ liệu; đồng thời quy định toàn bộ quá trình tạo lập, thu thập, cập nhật, rà soát, chuẩn hóa, quản trị chất lượng, duy trì và lưu trữ dữ liệu.
Bên cạnh đó, các yêu cầu về kết nối, chia sẻ, khai thác, sử dụng và bảo vệ Cơ sở dữ liệu (CSDL) cũng được quy định cụ thể, qua đó hình thành cơ sở pháp lý cho việc quản lý thống nhất dữ liệu chuyên ngành cấp nước sạch và thoát nước đô thị.
Theo Thông tư, Hệ thống thông tin cấp nước sạch và thoát nước đô thị do Bộ Xây dựng xây dựng, quản lý thống nhất trên phạm vi toàn quốc. Hệ thống bao gồm phần cứng, phần mềm, hệ quản trị CSDL và các thành phần kỹ thuật phục vụ tạo lập, thu thập, cập nhật, lưu trữ, xử lý, quản lý, kết nối, chia sẻ, khai thác và bảo vệ dữ liệu.
CSDL cấp nước sạch và thoát nước đô thị là cơ sở dữ liệu chuyên ngành thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Xây dựng, bao gồm dữ liệu số về cấp nước sạch; thoát nước đô thị; xử lý nước thải, bùn thải thuộc hệ thống thoát nước đô thị; các tài liệu làm căn cứ, chỉ số quản lý và dữ liệu có liên quan.
Một trong những nội dung đáng chú ý của Thông tư là thiết lập mã định danh chuyên ngành đối với các đối tượng quản lý cốt lõi. Theo đó, mỗi đối tượng thuộc diện quy định phải được gắn một mã định danh chuyên ngành duy nhất ngay khi được tạo lập lần đầu trên Hệ thống thông tin.
Các đối tượng này gồm đơn vị cấp nước, đơn vị thoát nước, nhà máy nước, công trình thu nước, trạm bơm nước thô, trạm bơm tăng áp, bể chứa nước sạch, đài nước; nhà máy, trạm xử lý nước thải; công trình xử lý nước thải phi tập trung thuộc hệ thống thoát nước đô thị; trạm bơm nước thải, trạm bơm thoát nước mưa; công trình trữ, điều hòa nước mưa; điểm xả sau xử lý; cơ sở xử lý bùn thải; điểm hoặc trạm giám sát trực tuyến là công trình độc lập và các đối tượng khác được quy định tại các phụ lục kèm theo Thông tư.
Đáng chú ý, đối với công trình đang vận hành nhưng chưa hoàn tất quyết toán, bàn giao, mã định danh vẫn được cấp khi có đủ những thông tin tối thiểu về loại đối tượng, tên gọi, vị trí, chủ thể quản lý hoặc vận hành, trạng thái hoạt động và nguồn dữ liệu.
Sau khi hoàn thành các thủ tục liên quan, hệ thống chỉ cập nhật trạng thái, chủ sở hữu và tài liệu có liên quan mà không thay đổi mã đã được cấp. Qua đó, mã định danh được duy trì xuyên suốt vòng đời của đối tượng quản lý.
Nguyên tắc này còn được áp dụng khi đối tượng chấm dứt hoạt động, hợp nhất, chia tách hoặc bị thay thế. Mã định danh cũ không được tái sử dụng cho đối tượng khác mà được lưu ở trạng thái lịch sử và liên kết với đối tượng kế thừa.
Đối với tổ chức, Hệ thống thông tin ghi nhận mã số doanh nghiệp, mã số thuế hoặc mã định danh khác do cơ quan có thẩm quyền cấp và liên kết với mã định danh chuyên ngành của đối tượng.
Thông tư đồng thời phân định rõ mã định danh chuyên ngành chỉ phục vụ hoạt động quản lý nghiệp vụ, không thay thế mã định danh địa điểm được xác lập trong Cơ sở dữ liệu định danh địa điểm.
Kết nối, chia sẻ và tái sử dụng dữ liệu
Cùng với định danh các đối tượng quản lý, Thông tư thiết lập cơ chế kết nối Cơ sở dữ liệu cấp nước sạch và thoát nước đô thị với nhiều hệ thống dữ liệu khác.
Theo đó, CSDL được kết nối, chia sẻ với CSDL tổng hợp quốc gia, CSDL quốc gia về dân cư, CSDL định danh địa điểm, CSDL dùng chung của Bộ Xây dựng và CSDL của địa phương.
Phạm vi kết nối còn bao gồm dữ liệu về đăng ký doanh nghiệp, đơn vị hành chính, tài nguyên nước, môi trường, chất lượng nước sinh hoạt, nước sạch nông thôn và các hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu khác có dữ liệu cần thiết theo quy định.
Việc kết nối, chia sẻ dữ liệu bắt buộc giữa các CSDL của các bộ, cơ quan Trung ương và địa phương được thực hiện thống nhất thông qua nền tảng chia sẻ, điều phối dữ liệu theo quy định.
Đối với kết nối nội bộ trong Bộ Xây dựng và các kết nối khác, dữ liệu có thể được trao đổi thông qua nền tảng tích hợp, chia sẻ dữ liệu của cơ quan có thẩm quyền, giao diện lập trình ứng dụng hoặc các phương thức kỹ thuật phù hợp.
Dữ liệu khi chia sẻ phải có mã định danh, siêu dữ liệu, trạng thái chất lượng, phiên bản và thời điểm hiệu lực; đồng thời phải được xác thực nguồn, bảo đảm tính toàn vẹn và an ninh mạng trong quá trình truyền nhận.
Một nguyên tắc đáng chú ý nhằm hạn chế việc đầu tư và truyền dữ liệu trùng lặp là không yêu cầu đơn vị lắp thêm thiết bị truyền dữ liệu hoặc truyền song song dữ liệu lên Hệ thống thông tin nếu dữ liệu đã được Hệ thống nguồn chia sẻ hợp pháp và đáp ứng yêu cầu kỹ thuật.
Đối với dữ liệu chất lượng nước sạch phục vụ sinh hoạt, kết quả nội kiểm, ngoại kiểm, kiểm tra, giám sát và trạng thái đáp ứng quy chuẩn kỹ thuật được kết nối, chia sẻ theo thẩm quyền với Sở Y tế, Trung tâm Kiểm soát bệnh tật cấp tỉnh, UBND các cấp và các cơ quan liên quan.
Thông tư cũng đặt ra nguyên tắc tái sử dụng dữ liệu trong hoạt động quản lý nhà nước.
Theo đó, cơ quan nhà nước được sử dụng dữ liệu đã được ghi nhận đáp ứng yêu cầu chất lượng hoặc dữ liệu kế thừa từ Hệ thống nguồn để giải quyết công việc, xây dựng chính sách, kiểm tra, thanh tra, thống kê, báo cáo và phục vụ công tác chỉ đạo, điều hành.
Ngược lại, dữ liệu chưa được ghi nhận đáp ứng yêu cầu chất lượng chỉ được sử dụng để tham khảo, rà soát và phải thể hiện rõ nguồn cũng như trạng thái chất lượng.
Hệ thống thông tin phải cung cấp chức năng tổng hợp, trích xuất các báo cáo định kỳ, đột xuất và báo cáo phục vụ quản lý, chỉ đạo, điều hành. Báo cáo định kỳ về cấp nước sạch và thoát nước đô thị được tổng hợp từ nguồn dữ liệu đáp ứng yêu cầu chất lượng.
Tuy nhiên, Thông tư cũng xác định rõ việc sử dụng dữ liệu trên Hệ thống thông tin để thay thế việc gửi báo cáo chỉ được thực hiện khi chế độ báo cáo tương ứng cho phép hoặc đã được cơ quan có thẩm quyền sửa đổi, thay thế, bãi bỏ. Đây là điểm cần lưu ý, bởi việc hình thành cơ sở dữ liệu không đồng nghĩa ngay lập tức bãi bỏ toàn bộ chế độ báo cáo hiện hành.
Trường hợp dữ liệu trong CSDL có sự khác biệt với hồ sơ nguồn hoặc thực tế quản lý, cơ quan khai thác có trách nhiệm thông báo nội dung sai lệch để rà soát. Trong thời gian xử lý, dữ liệu của Hệ thống nguồn được sử dụng làm căn cứ.
Khi Hệ thống thông tin gặp sự cố, việc báo cáo được thực hiện theo phương thức của chế độ báo cáo hiện hành; đồng thời đơn vị vận hành phải triển khai phương án dự phòng và đồng bộ lại dữ liệu sau khi hệ thống được khôi phục.
Về khai thác, cơ quan nhà nước được sử dụng dữ liệu theo chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền và phạm vi phân quyền. Các đơn vị cấp nước, thoát nước được khai thác dữ liệu do mình tạo lập, cập nhật và các dữ liệu dùng chung cần thiết phục vụ quản lý, vận hành, báo cáo, bảo đảm an toàn và nâng cao chất lượng dịch vụ.
Đối với người dân, doanh nghiệp và các tổ chức khác, dữ liệu mở đã được công bố có thể được khai thác theo quy định. Việc cung cấp các dữ liệu không thuộc phạm vi dữ liệu mở phải tuân thủ pháp luật về dữ liệu, tiếp cận thông tin, giá, phí, lệ phí và các quy định pháp luật liên quan.
Cơ quan, tổ chức, cá nhân khi khai thác dữ liệu phải ghi rõ nguồn, thời điểm khai thác; không xuyên tạc hoặc làm sai lệch dữ liệu và chịu trách nhiệm đối với sản phẩm, kết quả được tạo ra từ quá trình sử dụng dữ liệu.
Thông tư số 69/2026/TT-BXD có hiệu lực thi hành từ ngày 01/11/2026.

Theo thông tư mới, các đối tượng quản lý cốt lõi được cấp mã định danh chuyên ngành duy nhất; dữ liệu được chuẩn hóa, kết nối, chia sẻ và tái sử dụng phục vụ quản lý, điều hành lĩnh vực cấp nước sạch, thoát nước đô thị. 

