Theo Nghị định số 178/2025/NĐ-CP hướng dẫn một số điều của Luật Quy hoạch đô thị và nông thôn số 47/2024/QH15 (có hiệu lực từ ngày 01/7/2025), hệ thống quy hoạch được thiết kế lại theo trục quy hoạch chung - phân khu - chi tiết - tổng mặt bằng, tạo cơ sở pháp lý rõ ràng hơn cho quản lý phát triển không gian đô thị và nông thôn trong giai đoạn mới.
Thiết lập một hệ thống khái niệm duy nhất
Trong thời gian dài, hệ thống pháp luật về quy hoạch phát triển đô thị và nông thôn vận hành song song giữa Luật Quy hoạch đô thị năm 2009 và Luật Xây dựng năm 2014. Các nghị định như Nghị định số 37/2010/NĐ-CP, Nghị định số 44/2015/NĐ-CP, Nghị định số 72/2019/NĐ-CP tiếp tục duy trì khái niệm “quy hoạch xây dựng” bên cạnh “quy hoạch đô thị”, tạo ra sự trùng lặp về thuật ngữ như “quy hoạch xây dựng vùng”, “quy hoạch khu chức năng”, gây khó khăn trong xác định căn cứ pháp lý đối với từng loại quy hoạch khi triển khai thủ tục đầu tư. Hệ quả là nhiều dự án vướng mắc từ bước xác định hồ sơ, ranh giới và thẩm quyền phê duyệt quy hoạch.
Luật Quy hoạch đô thị và nông thôn số 47/2024/QH15 đã thiết lập một hệ thống khái niệm duy nhất: “quy hoạch đô thị và nông thôn” (Điều 3), đồng thời loại bỏ toàn bộ cách tiếp cận theo “quy hoạch xây dựng” (Điều 57). Luật cũng giao Chính phủ quy định chi tiết trình tự, thủ tục lập, thẩm định, phê duyệt nhiệm vụ quy hoạch, quy hoạch đô thị và nông thôn (khoản 3 Điều 16), nhằm chuẩn hóa các cấp độ, quy trình và trách nhiệm trong quản lý quy hoạch. Trên cơ sở đó, Nghị định số 178/2025/NĐ-CP được ban hành, đóng vai trò là đầu mối kỹ thuật để chuyển đổi khái niệm, cập nhật toàn bộ hệ thống quy định liên quan.
Không chỉ triển khai Luật mới, Nghị định số 178/2025/NĐ-CP còn sửa đổi đồng bộ nhiều nghị định quan trọng trong lĩnh vực xây dựng và đô thị (Điều 28), tạo ra sự liền mạch pháp lý giữa quy hoạch - phát triển đô thị - đầu tư dự án - quản lý hạ tầng và kiến trúc.
Xóa “quy hoạch xây dựng”, chuẩn hóa “quy hoạch đô thị và nông thôn”
Điều 2 và Điều 28 của Nghị định số 178/2025/NĐ-CP thay thế toàn bộ cụm từ “quy hoạch xây dựng” bằng “quy hoạch đô thị và nông thôn” trong các Nghị định được sửa đổi, đồng thời điều chỉnh lại các khái niệm liên quan đến cấp độ, nội dung quy hoạch theo đúng cấu trúc của Luật số 47/2024/QH15.
Đặc biệt, Nghị định sửa đổi Điều 3 và các điều khoản khác của Nghị định số 175/2024/NĐ-CP, xác định thống nhất rằng mọi hoạt động lập nhiệm vụ, thẩm định, phê duyệt và quản lý theo quy hoạch đều chiếu theo quy hoạch đô thị và nông thôn.
Điều này có 3 tác động trực tiếp, trong đó về mặt pháp lý, chấm dứt song trùng khái niệm, giảm tranh luận về căn cứ khi ban hành hồ sơ quy hoạch và cấp phép dự án; về quản lý nhà nước, các Bộ và địa phương có một hệ quy chiếu duy nhất, giảm rủi ro sai sót thủ tục; Về thực tiễn đầu tư, dự án được xác định căn cứ quy hoạch rõ ràng hơn, tránh việc bị dừng do “thiếu phù hợp quy hoạch”.
Đáng chú ý, Nghị định số 178/2025/NĐ-CP thiết kế lại thang bậc quy hoạch: rõ mục tiêu, mạch quản lý xuyên suốt. Trong đó, quy hoạch chung đô thị là khung pháp lý bắt buộc. Điều 7 Nghị định số 178/2025/NĐ-CP quy định các trường hợp bắt buộc phải lập quy hoạch chung đô thị, đồng thời đưa ra ngưỡng kỹ thuật đối với đô thị mở rộng và đô thị mới (diện tích, mật độ dân số, tỷ lệ lao động phi nông nghiệp) (điểm d khoản 1 Điều 7). Đây là cơ sở pháp lý để kiểm soát việc mở rộng đô thị dựa trên năng lực phát triển thực tế, tránh chạy theo hình thức hành chính.
Quy hoạch phân khu bảo đảm tổ chức cấu trúc không gian. Theo Điều 8, quy hoạch phân khu được lập dựa trên định hướng không gian của quy hoạch chung. UBND cấp tỉnh chịu trách nhiệm xác định phạm vi và kế hoạch lập phân khu, gắn trách nhiệm phân cấp rõ ràng (khoản 1 Điều 8).
Quy hoạch chi tiết thu hẹp phạm vi, tăng kiểm soát. Điều 9 quy định quy hoạch chi tiết chỉ áp dụng khi cần thiết, và bắt buộc phải phù hợp với quy hoạch phân khu hoặc quy hoạch chung. Cách thiết kế này khắc phục tình trạng lạm dụng điều chỉnh chỉ tiêu ngay tại cấp chi tiết.
Quy hoạch tổng mặt bằng là công cụ linh hoạt mới. Điều 10 lần đầu tiên đưa ra cơ chế quy hoạch tổng mặt bằng với thời gian chấp thuận tối đa 15 ngày (điểm c khoản 6 Điều 10). Đây là cải cách thủ tục nhưng vẫn yêu cầu bám sát quy hoạch cấp trên, giữ kỷ cương phát triển không gian.
Có thể thấy, Nghị định số 178/2025/NĐ-CP là bước đi tất yếu, thể chế hóa đầy đủ Luật số 47/2024/QH15, tạo khung pháp lý thống nhất cho quy hoạch đô thị và nông thôn. Dù vậy, một số thách thức có thể xuất hiện trong giai đoạn chuyển tiếp như: Khối lượng lớn hồ sơ cần chỉnh sửa cập nhật thuật ngữ, đặc biệt trong CSDL quy hoạch; Nhu cầu đào tạo lại đối với cán bộ quản lý và tư vấn quy hoạch; Giải thích pháp luật cần thống nhất, hạn chế cách hiểu khác nhau ở địa phương.
Để bảo đảm Nghị định đi vào thực tiễn hiệu quả, Bộ Xây dựng cần sớm ban hành hướng dẫn kỹ thuật chi tiết về quy hoạch tổng mặt bằng, quy hoạch phân khu và quy trình xử lý mâu thuẫn quy hoạch. Địa phương chủ động cập nhật CSDL quy hoạch, công khai toàn bộ nội dung theo Điều 54 Luật số 47/2024/QH15 và Điều 24 Nghị định số 178/2025/NĐ-CP. Đồng thời tăng cường thẩm tra, kiểm tra việc áp dụng quy hoạch theo cấp độ nhằm duy trì kỷ luật thực thi pháp luật về đô thị.
Các Nghị định bị sửa đổi bởi Nghị định số 178/2025/NĐ-CP gồm:
(i) Nghị định số 175/2024/NĐ-CP (quản lý hoạt động xây dựng)
(ii) Nghị định số 111/2024/NĐ-CP (hệ thống thông tin, CSDL hoạt động xây dựng)
(iii) Nghị định số 100/2024/NĐ-CP (nhà ở xã hội)
(iv) Nghị định số 98/2024/NĐ-CP (cải tạo, xây dựng lại chung cư)
(v) Nghị định số 96/2024/NĐ-CP (kinh doanh BĐS)
(vi) Nghị định số 95/2024/NĐ-CP (nhà ở)
(vii) Nghị định số 35/2022/NĐ-CP (khu công nghiệp - khu kinh tế)
(viii) Nghị định số 10/2024/NĐ-CP (khu công nghệ cao)
(ix) Nghị định số 85/2020/NĐ-CP (kiến trúc).

Nghị định số 178/2025/NĐ-CP đánh dấu bước chuyển từ “quy hoạch xây dựng” sang “quy hoạch đô thị và nông thôn” thống nhất, đồng bộ với Luật Quy hoạch đô thị và nông thôn số 47/2024/QH15. 

