Thị trường

Thừa Thiên Huế định hướng phát triển VLXD thành ngành công nghiệp xanh, bền vững

Thừa Thiên Huế định hướng phát triển VLXD thành ngành công nghiệp xanh, bền vững

Thu Thảo Thu Thảo - 07:00, 04/08/2023

Tạp chí Xây dựng - Bộ xây dựngTheo UBND tỉnh Thừa Thiên Huế, phát triển vật liệu xây dựng đảm bảo tính bền vững, gắn hiệu quả kinh tế với hiệu quả xã hội, bảo vệ tốt nguồn tài nguyên thiên nhiên, môi trường sinh thái…

UBND tỉnh Thừa Thiên Huế vừa có Quyết định phê duyệt Kế hoạch phát triển VLXD trên địa bàn tỉnh thời kỳ 2021- 2030, định hướng đến năm 2050.

Theo Kế hoạch, việc phát triển VLXD đảm bảo tính bền vững, gắn hiệu quả kinh tế với hiệu quả xã hội, bảo vệ tốt nguồn tài nguyên thiên nhiên, môi trường sinh thái… Không ảnh hưởng tới khu vực an ninh, quốc phòng, di tích lịch sử, văn hóa, du lịch, rừng đặc dụng, rừng phòng hộ, rừng tự nhiên. Không tác động tiêu cực tới môi trường, đời sống sinh hoạt của dân cư và không chồng chéo với các kế hoạch, quy hoạch khác.

Tập trung đầu tư và phát triển các sản phẩm có thế mạnh của tỉnh, sản xuất VLXD có nguồn nguyên liệu tại chỗ. Sử dụng hiệu quả tài nguyên, triệt để tiết kiệm năng lượng, nguyên liệu, nhiên liệu.

Khuyến khích phát triển công nghệ sạch, công nghệ sử dụng phế thải, phế liệu của các ngành khác làm VLXD để giảm ô nhiễm môi trường. Từng bước loại bỏ công nghệ lạc hậu gây ô nhiễm môi trường…Từng bước sắp xếp lại các cơ sở sản xuất vào các khu công nghiệp, cụm công nghiệp tập trung. Ưu tiên đầu tư nghiên cứu sử dụng các loại phế thải, chất thải làm nguyên liệu, nhiên liệu sản xuất VLXD, vật liệu san lấp.

Đặc biệt, phát triển ngành VLXD với công nghệ sản xuất đạt trình độ tiên tiến, hiện đại, cải tạo công nghệ hoặc dừng sản xuất đối với các doanh nghiệp sản xuất VLXD có công nghệ lạc hậu, tiêu hao nhiều nhiên liệu, năng lượng và gây ô nhiễm môi trường theo quy định.

Sử dụng hiệu quả, tiết kiệm, đa dạng nguyên liệu, nhiên liệu; sử dụng, tận dụng tối đa các loại chất thải công nghiệp, khai thác mỏ để sản xuất VLXD, vật liệu san lấp. Ưu tiên các dự án, chuỗi dự án sản xuất VLXD tập trung tại các khu công nghiệp, cụm công nghiệp, sử dụng công nghệ hiện đại, tiêu hao nhiên liệu và năng lượng thấp, tỷ lệ nội địa hóa cao về thiết bị trong sản xuất.

Dự kiến, đến năm 2030 ngành sản xuất VLXD của tỉnh Thừa Thiên Huế đạt được trình độ công nghệ tiên tiến, hiện đại, thân thiện với môi trường. Cơ giới hóa và tự động hóa trong sản xuất VLXD, đáp ứng nhu cầu thị trường trong tỉnh, trong vùng, xuất khẩu một phần đối với những sản phẩm chủ lực mang lại hiệu quả kinh tế cao.

Định hướng đến năm 2050, ngành sản xuất VLXD của tỉnh được tự động hóa hoàn toàn trong quá trình sản xuất và trở thành ngành công nghiệp xanh, bền vững.

Mục tiêu đầu tư công nghệ, khai thác sử dụng tài nguyên, bảo vệ môi trường của từng chủng loại VLXD cho từng giai đoạn phát triển. Phân cấp rõ ràng để tăng cường hiệu lực quản lý hoạt động sản xuất, khai thác khoáng sản làm VLXD, đặc biệt là đối với một số lĩnh khai thác khoáng sản làm VLXD, bảo vệ môi trường trong hoạt động sản xuất VLXD.

Phân cấp rõ ràng để tăng cường hiệu lực quản lý hoạt động sản xuất, khai thác khoáng sản làm VLXD, đặc biệt là đối với một số lĩnh khai thác khoáng sản làm VLXD, bảo vệ môi trường trong hoạt động sản xuất VLXD.

Xây dựng cơ chế chính sách, sửa đổi các văn bản pháp luật khuyến khích nâng cấp, chuyển đổi công nghệ mới để tăng năng suất, chất lượng; sử dụng tiết kiệm tài nguyên, năng lượng; nâng cao tỷ lệ sử dụng nguyên liệu phi truyền thống; giảm lượng phát thải để bảo vệ môi trường.

Đồng thời, kiểm soát chặt chẽ việc thực hiện các cam kết bảo vệ môi trường, việc thực hiện kiểm soát các chỉ tiêu phát thải môi trường, kịp thời xử lý vi phạm của các doanh nghiệp để phát triển sản xuất VLXD an toàn, bền vững và bảo vệ môi trường.

Tiến tới dừng hoạt động các cơ sở sản xuất công nghệ lạc hậu, không hiệu quả kinh tế, gây ô nhiễm môi trường. Tuyên truyền, phổ biến các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến lĩnh vực VLXD, chính sách ưu đãi, hỗ trợ doanh nghiệp đầu tư sản xuất và sử dụng VLXD xanh, thân thiện môi trường. Tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh và năng lực cạnh tranh; quan tâm đào tạo và phát triển lao động có kỹ thuật cao.

Nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên khoáng sản; Sử dụng tiết kiệm nguyên liệu trong sản xuất VLXD; Hoàn nguyên môi trường các khu mỏ khoáng sản khi kết thúc khai thác theo quy định hiện hành.

Bên cạnh đó, sắp xếp thu gọn các khu vực sản xuất VLXD, hình thành một số khu vực khai thác, chế biến, sản xuất VLXD tập trung nhằm cung cấp ổn định về khối lượng, chất lượng khoáng sản cho sản xuất VLXD trong tỉnh và các vùng phụ cận, đảm bảo nguồn cung cho xây dựng, phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ môi trường.

Sử dụng chất thải công nghiệp, chất thải khai thác mỏ làm nguồn nguyên liệu, nhiên liệu, thay thế cho một phần nguyên liệu trong sản xuất VLXD. Nghiên cứu phát triển sản phẩm mới, công nghệ mới, sử dụng nguyên liệu, nhiên liệu thay thế nâng cao năng suất chất lượng giảm giá thành sản phẩm, phù hợp với công nghệ thi công xây dựng hiện đại, giảm giá thành công trình xây dựng.

Khuyến khích các nhà đầu tư sản xuất VLXD, đầu tư mới, đầu tư đổi mới công nghệ sản xuất. Đặc biệt, ưu tiên cho các sản phẩm có hàm lượng khoa học kỹ thuật cao, các sản phẩm mới có giá trị kinh tế cao; thu hút đầu tư nước ngoài và trong nước áp dụng, chuyển giao công nghệ hiện đại tạo ra sản phẩm vật liệu xây dựng mới có chất lượng, giá trị kinh tế cao trên địa bàn tỉnh. Nghiên cứu, chế tạo thiết bị cơ khí, sản xuất thiết bị, phụ tùng thay thế, nâng cao tỷ lệ nội địa hóa, tăng cường ứng dụng cơ giới hóa, tự động hóa trong sản xuất VLXD.

Ngoài ra, tỉnh cũng đưa ra các giải pháp về thị trường; giải pháp về nguồn lực lao động; và nguồn vốn đầu tư cho phát triển sản xuất VLXD.

Trong giai đoạn tới, những loại VLXD có năng lực sản xuất vượt xa so với nhu cầu sử dụng như: xi măng, gạch ốp lát, tỉnh Thừa Thiên  Huế tiếp tục giữ ổn định sản xuất các nhà máy hiện có và không khuyến khích đầu tư mới, đầu tư mở rộng. Bên cạnh đó, do nguồn nguyên liệu cát thạch anh trên địa bàn tỉnh rất lớn, thích hợp cho việc sản xuất kính xây dựng để nâng cao giá trị khoáng sản của địa phương nên được khuyến khích đầu tư sản xuất sản phẩm kính chất lượng cao, giá trị kinh tế cao. Còn đối với những dây chuyền sản xuất gạch đất sét nung, tỉnh cũng sẽ không đầu tư mới mà khuyến khích đầu tư, phát triển sản xuất loại VLXD không nung.

Ý kiến của bạn