Tiếp cận lãnh thổ tích hợp cho tỉnh  Vĩnh Long trong bối cảnh chính quyền địa phương 2 cấp Tiếp cận lãnh thổ tích hợp cho tỉnh  Vĩnh Long trong bối cảnh chính quyền địa phương 2 cấp

Tiếp cận lãnh thổ tích hợp cho tỉnh Vĩnh Long trong bối cảnh chính quyền địa phương 2 cấp

Trên cơ sở phân tích khung pháp lý mới (Nghị quyết 111/2025/UBTVQH15, Nghị định 269/2025/NĐ-CP, Quyết định 51/2025/QĐ-TTg), kết hợp tham chiếu kinh nghiệm quốc tế và đặc thù vùng ĐBSCL, bài viết đề xuất định hướng tiếp cận lãnh thổ tích hợp cho Vĩnh Long nhằm nâng cao hiệu quả quản trị trong mô hình chính quyền hai cấp, thúc đẩy phát triển bền vững và tăng cường năng lực thích ứng với biến đổi khí hậu (BĐKH).

1.1. Bối cảnh hình thành tỉnh Vĩnh Long mới và yêu cầu tái cấu trúc không gian phát triển

Mô hình chính quyền địa phương hai cấp chính thức triển khai từ ngày 01/7/2025 ở Việt Nam đánh dấu bước chuyển căn bản trong tổ chức bộ máy và phương thức quản trị lãnh thổ. Mô hình này: Giảm tầng nấc trung gian, tăng tính chủ động cho cấp cơ sở; Tăng quyền chủ động cho cấp tỉnh và cấp xã; Đặt ra yêu cầu cao hơn về năng lực điều phối không gian phát triển.
Nghị quyết số 202/2025/QH15 của Quốc hội ban hành về sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh, theo đó hợp nhất ba tỉnh Vĩnh Long, Bến Tre và Trà Vinh thành tỉnh Vĩnh Long (mới), đã tạo ra một bước ngoặt lớn trong tổ chức không gian lãnh thổ vùng ĐBSCL.

Với quy mô diện tích hơn 6.296 km², dân số xấp xỉ 3,4 triệu người và hệ thống 124 đơn vị hành chính cấp xã (gồm: 23 phường và 101 xã), Vĩnh Long trở thành một tỉnh phát triển có quy mô trung bình lớn trong vùng, sở hữu đầy đủ các không gian sinh thái: ven biển - cửa sông - cù lao - nội đồng - đô thị trung tâm. Việc hợp nhất không chỉ là thay đổi địa giới hành chính, mà cần thiết tái cấu trúc toàn diện về: Không gian phát triển kinh tế - xã hội; Mạng lưới đô thị và hệ thống dân cư nông thôn; Hạ tầng giao thông, logistics và kết nối vùng; Phân bố nguồn lực đất đai, dân số và lao động; Phương thức quản trị và điều hành phát triển.

Trong bối cảnh đó, yêu cầu đặt ra không còn là “mở rộng quy mô”, mà là tổ chức lại không gian phát triển theo hướng tích hợp, hiệu quả và bền vững, phù hợp với cải cách hành chính theo mô hình chính quyền địa phương 2 cấp. (Hình 1)

1.2. Tác động của bối cảnh pháp lý và định hướng phát triển quốc gia

Hệ thống chính sách mới được ban hành trong giai đoạn 2024 - 2025 đã tạo ra khung pháp lý đầy đủ cho đổi mới mô hình phát triển lãnh thổ, nổi bật là: Nghị quyết số 13-NQ/TW (2022) về phát triển vùng ĐBSCL thích ứng BĐKH; Nghị quyết số 57-NQ/TW (2024) về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; Nghị định số 269/2025/NĐ-CP về phát triển đô thị thông minh; Nghị quyết số 111/2025/UBTVQH15 về phân loại đô thị; Quyết định số 51/2025/QĐ-TTg ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới giai đoạn 2026-2030.

Các văn bản này cho thấy một sự chuyển dịch rõ rệt trong tư duy phát triển: từ tiếp cận theo ngành, theo địa giới hành chính sang tiếp cận theo không gian lãnh thổ, dựa trên dữ liệu, quản trị thông minh và liên kết vùng. Đối với Vĩnh Long, đây vừa là áp lực điều chỉnh, vừa là cơ hội để tái cấu trúc mô hình phát triển theo hướng hiện đại, bền vững và thích ứng dài hạn.

1.3. Những thách thức đặc thù của tỉnh Vĩnh Long sau hợp nhất

Trên nền tảng quy hoạch tổng thể và các đánh giá hiện trạng, tỉnh Vĩnh Long đang đối mặt với một số thách thức mang tính cấu trúc: Mô hình quản trị và không gian phát triển phân tán, sự chênh lệch lớn giữa khu vực đô thị trung tâm, vùng ven biển và khu vực nông thôn nội vùng; Hạ tầng liên kết còn hạn chế, đặc biệt là giao thông liên vùng, logistics, hạ tầng số; chất lượng nguồn nhân lực; Tác động ngày càng nghiêm trọng của BĐKH, xâm nhập mặn, sụt lún, thiếu nước ngọt (Vĩnh Long nơi hội tụ 8 trong tổng số 9 nhánh chính của sông Cửu Long); Áp lực đô thị hóa không đồng đều, nhiều khu vực nông thôn còn thiếu động lực phát triển; khó tích hợp dữ liệu và điều hành liên ngành.

Những thách thức này cho thấy, với đặc thù tỉnh Vĩnh Long, nếu tiếp tục cách tiếp cận cũ - tách biệt đô thị và nông thôn, chia cắt theo địa giới hành chính - sẽ khó khai thác lợi thế tổng hợp sau sáp nhập. Vì vậy cần một mô hình phát triển mới, vượt lên tư duy “đô thị - nông thôn tách biệt”.

1.4. Yêu cầu chuyển đổi sang tiếp cận lãnh thổ tích hợp

Quy hoạch và chiến lược phát triển tỉnh Vĩnh Long không chỉ mang tính kỹ thuật, mà là quá trình định hình lại mô hình phát triển lãnh thổ. Trọng tâm là: Tổ chức không gian phát triển theo vùng chức năng, thay vì đơn thuần theo địa giới phù hợp với mô hình chính quyền địa phương 2 cấp; Kết nối đô thị - nông thôn - hạ tầng - sinh thái trong một hệ thống thống nhất; Lấy dữ liệu, công nghệ và quản trị số làm nền tảng điều hành; Gắn phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường và thích ứng biến đổi khí hậu.
Song song với đó, quá trình chuyển đổi số quốc gia, tái cơ cấu không gian đô thị - nông thôn, và thích ứng BĐKH đang diễn ra mạnh mẽ, đặc biệt tại vùng ĐBSCL. Chính trong bối cảnh đó, cách tiếp cận “lãnh thổ thông minh”, tích hợp giữa ĐTTM và NTTM, trở thành hướng đi tất yếu, là khung tư duy phù hợp để phát triển tỉnh Vĩnh Long trong giai đoạn phát triển mới.

2.1. Từ ĐTTM đến NTTM và tiếp cận lãnh thổ tích hợp
Trong hơn một thập niên qua, khái niệm đô thị thông minh (Smart City) đã được nhiều quốc gia tiếp cận như một hướng đi tất yếu nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, chất lượng sống và năng lực cạnh tranh đô thị. Tuy nhiên, nếu chỉ dừng lại ở ứng dụng công nghệ hoặc xây dựng các ĐTTM đơn lẻ, hiệu quả tổng thể sẽ bị hạn chế, thậm chí làm gia tăng chênh lệch phát triển giữa đô thị và nông thôn. 

Nghị định số 269/2025/NĐ-CP đã đánh dấu bước chuyển quan trọng trong tư duy phát triển ĐTTM, khi xác định rõ: ĐTTM không đơn thuần là tập hợp các ứng dụng công nghệ, mà là một hệ thống vận hành dựa trên dữ liệu, đổi mới sáng tạo và quản trị hiện đại, nhằm nâng cao chất lượng sống và phát triển bền vững. Điểm cốt lõi của cách tiếp cận này nằm ở: Vai trò trung tâm của dữ liệu và kết nối liên thông; Năng lực điều hành theo thời gian thực; Sự tham gia của người dân, doanh nghiệp và xã hội; Gắn kết chặt chẽ giữa phát triển đô thị với mục tiêu bền vững.

Song song, nông thôn đang bước vào giai đoạn chuyển đổi mới. Quyết định 51/2025/QĐ-TTg (Bộ tiêu chí NTM 2026 - 2030, hiệu lực 15/02/2026) thể hiện sự dịch chuyển từ “xây dựng” sang “quản trị phát triển nông thôn”, với trọng tâm là số hóa cấp xã, thúc đẩy kinh tế số, nâng chất lượng dịch vụ công và lồng ghép môi trường và thích ứng BĐKH.

Dù không dùng trực tiếp sử dụng thuật ngữ “nông thôn thông minh”, tuy nhiên khung thí điểm “xã NTM hiện đại” đã hàm chứa các nội dung hiện đại hóa và chuyển đổi số (CĐS) theo tinh thần này. Qua đó cho thấy ĐTTM và NTTM đang hội tụ trong một chỉnh thể phát triển chung, đòi hỏi cách tiếp cận tích hợp theo lãnh thổ - phù hợp với thực trạng của tỉnh Vĩnh Long. (Hình 2)

2.2. Cơ sở pháp lý cho tiếp cận lãnh thổ thông minh ở Việt Nam

Khung pháp lý hiện nay đã hình thành nền tảng tương đối đầy đủ cho việc triển khai tiếp cận lãnh thổ thông minh, thể hiện rõ qua ba trụ cột chính sách:

Thứ nhất, Nghị định số 269/2025/NĐ-CP: Xác lập khung phát triển đô thị thông minh thống nhất trên phạm vi cả nước, nhấn mạnh: Quản trị dựa trên dữ liệu; Liên thông giữa các lĩnh vực và cấp quản lý; Gắn đô thị thông minh với phát triển bền vững và chuyển đổi số quốc gia.

Thứ hai, Quyết định số 51/2025/QĐ-TTg: Lần đầu tiên đưa ra bộ tiêu chí nông thôn mới theo nhóm xã, cho phép: Phát triển linh hoạt theo trình độ từng địa phương; Tích hợp chuyển đổi số, kinh tế xanh, quản trị hiện đại; Hình thành nền tảng cho mô hình nông thôn thông minh.

Thứ ba, Nghị quyết số 111/2025/UBTVQH15: Đổi mới cách tiếp cận phân loại đô thị theo hướng: Không thuần túy dựa vào quy mô dân số; Nhấn mạnh chất lượng hạ tầng, môi trường và năng lực quản trị; Tạo dư địa linh hoạt cho các địa phương trong tổ chức không gian phát triển.

Ba văn bản pháp lý Nghị định 269/2025/NĐ-CP, Quyết định số 51/2025/QĐ-TTg và Nghị quyết số 111/2025/UBTVQH15 hợp thành một “tam giác chính sách”, trong đó: Đô thị thông minh là động lực điều hành và đổi mới; Nông thôn thông minh là không gian lan tỏa giá trị; Phân loại đô thị là công cụ tổ chức không gian phát triển phù hợp thực tiễn. (Hình 3)

2.3. Khung tiếp cận lãnh thổ thông minh - nền tảng cho phát triển bền vững tỉnh Vĩnh Long

Trên cơ sở lý luận và khung chính sách nêu trên, tiếp cận “lãnh thổ thông minh” được hiểu là: Mô hình tổ chức không gian phát triển trong đó đô thị - nông thôn - hạ tầng - sinh thái được tích hợp trong một hệ thống thống nhất, vận hành dựa trên dữ liệu, công nghệ số và cơ chế quản trị hiện đại. Cách tiếp cận này bao gồm bốn trụ cột chính:

1) Không gian lãnh thổ tích hợp: Tổ chức phát triển theo vùng chức năng (đô thị trung tâm - vành đai nông nghiệp - hành lang sinh thái - vùng ven biển), thay vì chia cắt theo địa giới hành chính cứng.

2) Quản trị thông minh dựa trên dữ liệu: Ứng dụng dữ liệu lớn, GIS, nền tảng số để hỗ trợ ra quyết định, quản lý đất đai, hạ tầng, dân cư và dịch vụ công.

3) Kết nối đô thị - nông thôn theo chuỗi giá trị: Đô thị đóng vai trò trung tâm điều phối; nông thôn là không gian sản xuất, sinh thái và văn hóa, cùng tham gia vào hệ sinh thái phát triển chung.

4) Thích ứng BĐKH và phát triển bền vững: Lồng ghép các giải pháp sinh thái, hạ tầng xanh - xám, kinh tế tuần hoàn và quản lý rủi ro thiên tai.

Đối với tỉnh Vĩnh Long sau hợp nhất, tiếp cận lãnh thổ thông minh không chỉ là một lựa chọn kỹ thuật trong đồ án quy hoạch tỉnh, mà là yêu cầu mang tính chiến lược. Đây chính là cơ sở để bước sang nội dung tiếp theo: Xây dựng mô hình lãnh thổ thông minh cho tỉnh Vĩnh Long, gắn với quy hoạch tỉnh, hệ thống đô thị - nông thôn và chiến lược phát triển dài hạn của vùng ĐBSCL.

Nhìn ra thế giới, nhiều quốc gia đã đi trước chúng ta trong việc tổ chức và vận hành lãnh thổ theo hướng “thông minh” trong việc xây dựng một hệ thống phát triển thống nhất giữa đô thị - nông thôn - hạ tầng - sinh thái. 

3.1. Hà Lan: Quản trị lãnh thổ vùng châu thổ dựa trên tích hợp không gian và dữ liệu

Hà Lan là quốc gia có nhiều điểm tương đồng với vùng ĐBSCL về điều kiện tự nhiên, đặc biệt là địa hình thấp, hệ thống sông ngòi dày đặc và chịu tác động mạnh của biến đổi khí hậu. Trong quá trình phát triển, Hà Lan đã hình thành mô hình quản trị lãnh thổ - châu thổ (Delta Management) với cách tiếp cận tích hợp cao giữa đô thị - nông nghiệp - thủy lợi - sinh thái.

Điểm cốt lõi trong mô hình của Hà Lan là: Quy hoạch không gian tích hợp, trong đó đô thị, nông nghiệp, giao thông, thủy lợi và môi trường được đặt trong cùng một khung điều phối; Quản trị dựa trên dữ liệu không gian, sử dụng hệ thống GIS, mô hình thủy văn, bản đồ ngập và dữ liệu thời gian thực để ra quyết định; Tiếp cận “sống chung với nước”, coi nước là yếu tố cấu trúc lãnh thổ chứ không chỉ là rủi ro cần kiểm soát.

Cách tiếp cận này có giá trị tham chiếu rất lớn đối với tỉnh Vĩnh Long, nơi: Có hệ thống sông Tiền - sông Hậu chi phối toàn bộ không gian phát triển; Chịu tác động mạnh của ngập lụt, xâm nhập mặn và sụt lún; Đang cần tổ chức lại không gian phát triển theo hướng thích ứng dài hạn.

Bài học từ Hà Lan: lãnh thổ thông minh phải lấy quản trị nước làm nền tảng, cần ưu tiên xây dựng ‘lớp dữ liệu nước’ (mực nước, xâm nhập mặn, sụt lún, điểm ngập) được tích hợp thống nhất vào IOC và cơ chế điều hành liên ngành.

3.2. Hàn Quốc: Mô hình Smart City gắn với Smart Village

Hàn Quốc là quốc gia đi đầu trong việc phát triển ĐTTM gắn với CĐS toàn diện, nhưng điểm đáng chú ý là nước này là ĐTTM đặt trong mối quan hệ hữu cơ với khu vực nông thôn - NTTM (Smart Village). Trong đó: Đô thị là trung tâm công nghệ, dữ liệu, đổi mới sáng tạo và dịch vụ số; Nông thôn là không gian ứng dụng công nghệ, phát triển sản xuất thông minh, nông nghiệp số, logistics nông sản; Chính phủ đóng vai trò điều phối vùng, bảo đảm kết nối giữa đô thị - nông thôn thông qua hạ tầng số và chính sách thống nhất.

Không tách ĐTTM khỏi NTTM, mà tổ chức mối quan hệ hữu cơ giữa trung tâm đô thị (dịch vụ - thị trường - đổi mới) và không gian nông thôn (sản xuất - sinh thái - du lịch), là công cụ để nâng cao hiệu quả quản trị và chất lượng sống. Mô hình này có nhiều điểm tương đồng với định hướng của tỉnh Vĩnh Long, khi: Không gian đô thị và nông thôn đan xen chặt chẽ; Nhu cầu quản trị thống nhất trên địa bàn rộng; Yêu cầu phát triển nông thôn thông minh gắn với chuyển đổi số.

Vĩnh Long có thể chọn 1 - 2 chuỗi giá trị chủ lực (nông sản/du lịch sinh thái) số hóa xuyên suốt: sản xuất - chế biến - logistics - tiêu thụ, kết nối dữ liệu từ xã lên tỉnh và liên vùng ĐBSCL.

3.3. Liên minh châu Âu (EU): Mô hình vùng chức năng đô thị - nông thôn (RUFA)

EU phát triển mô hình Rural-Urban Functional Area (RUFA) nhằm khắc phục hạn chế của cách quản lý theo ranh giới hành chính truyền thống. Cốt lõi của mô hình RUFA là không bị bó buộc bởi địa giới hành chính: Phát triển lãnh thổ theo dòng chảy thực tế: lao động, kinh tế, dịch vụ, dữ liệu và Tổ chức không gian dựa trên mối quan hệ chức năng giữa đô thị và nông thôn. Trong mô hình này: Đô thị giữ vai trò trung tâm cung cấp dịch vụ, việc làm, đổi mới sáng tạo; Nông thôn cung cấp không gian sản xuất, sinh thái và nguồn lực; Cả hai cùng vận hành trong một hệ thống kinh tế - xã hội thống nhất.

Bối cảnh chính quyền 2 cấp và không gian mở rộng sau hợp nhất đòi hỏi tổ chức lãnh thổ theo vùng chức năng, quản trị dựa trên dữ liệu và liên kết đô thị - nông thôn thành một hệ thống thống nhất. Vĩnh Long cần xác định rõ 2 - 3 “vùng chức năng” (ví dụ: vùng đô thị - dịch vụ; vùng nông nghiệp công nghệ; vùng sinh thái - du lịch…) để thiết kế cơ chế phối hợp, phân quyền dữ liệu và KPI theo vùng.

4.1. Quan điểm xây dựng mô hình lãnh thổ thông minh

Trên cơ sở bối cảnh phát triển mới, khung pháp lý hiện hành và yêu cầu tổ chức lại không gian phát triển sau hợp nhất, mô hình lãnh thổ thông minh của tỉnh Vĩnh Long được xây dựng theo quan điểm: Lãnh thổ là một chỉnh thể thống nhất, trong đó đô thị - nông thôn - hạ tầng - sinh thái gắn kết hữu cơ; Phát triển dựa trên dữ liệu và quản trị số, thay cho cách điều hành phân tán theo ngành, theo địa giới; Đô thị không phát triển tách rời nông thôn, mà đóng vai trò trung tâm điều phối chuỗi giá trị; Thích ứng BĐKH là nguyên tắc xuyên suốt, không phải nội dung bổ sung; Phù hợp với mô hình chính quyền địa phương hai cấp, bảo đảm tính linh hoạt, hiệu quả và phân quyền rõ ràng.

Theo đó, lãnh thổ thông minh không chỉ là không gian vật lý, mà là hệ sinh thái phát triển có khả năng tự điều chỉnh, học hỏi và thích ứng. (Hình 4)

4.2. Triển khai mô hình lãnh thổ thông minh tại tỉnh Vĩnh Long

Việc triển khai lãnh thổ thông minh tại Vĩnh Long cần được tiếp cận theo lộ trình phù hợp, đảm bảo tính khả thi trong điều kiện thực tiễn của địa phương sau hợp nhất.

1) Triển khai theo nguyên tắc “từng bước - có trọng tâm - có đánh giá”.
Không triển khai đồng loạt trên toàn tỉnh, mà ưu tiên: Các đô thị trung tâm, khu vực động lực phát triển; Các vùng chịu tác động mạnh của biến đổi khí hậu; Các lĩnh vực có sẵn nền tảng dữ liệu và hạ tầng số.

2) Tích hợp mô hình lãnh thổ thông minh vào quy hoạch tỉnh và kế hoạch phát triển. Mô hình không tách rời Quy hoạch tỉnh, mà cần được: Lồng ghép vào điều chỉnh quy hoạch thời kỳ 2021-2030; Gắn với kế hoạch đầu tư công trung hạn; Liên thông với các chương trình CĐS, phát triển đô thị, xây dựng NTM.

3) Triển khai theo tiếp cận “từ quản trị đến công nghệ”. Công nghệ chỉ là công cụ; trọng tâm là: Tổ chức bộ máy quản lý hiệu quả; Quy trình phối hợp liên ngành rõ ràng; Cơ chế chia sẻ và khai thác dữ liệu thống nhất. (Bảng 1)

4.3. Phát triển hệ sinh thái lãnh thổ thông minh cho tỉnh Vĩnh Long

Sau hợp nhất, Vĩnh Long bước vào giai đoạn phát triển với cấu trúc lãnh thổ mở rộng, đòi hỏi một mô hình quản trị linh hoạt theo vùng chức năng thay vì quản lý cứng theo địa giới đô thị - nông thôn. Theo đó, “lãnh thổ thông minh” cần được hiểu là hệ sinh thái thống nhất giữa đô thị - nông thôn - hạ tầng - sinh thái, vận hành dựa trên dữ liệu và cơ chế phối hợp liên ngành, liên cấp. 

Về điều kiện tự nhiên, Vĩnh Long chịu chi phối mạnh bởi không gian sông nước, gắn với trục sông Tiền - sông Hậu; đồng thời đối mặt các thách thức ngập lụt, xâm nhập mặn và sụt lún, khiến yêu cầu “thích ứng dài hạn” trở thành nguyên tắc xuyên suốt trong tổ chức phát triển lãnh thổ. Vì vậy, trọng tâm không phải “đầu tư công nghệ rời rạc”, mà là thiết kế nền quản trị dữ liệu dùng chung, lựa chọn vùng ưu tiên để thí điểm, và tổ chức triển khai theo lộ trình có kiểm chứng và đánh giá bằng các chỉ số KPI. (Hình 5)

Cách tiếp cận này sẽ mang lại nhiều lợi ích rõ nét cho tỉnh Vĩnh Long: giảm áp lực đô thị hóa tập trung; nâng cao giá trị gia tăng ở khu vực nông thôn tạo nền tảng cho phát triển cân bằng, bền vững trên toàn tỉnh. (Bảng 2)

Trong bối cảnh chính quyền địa phương hai cấp, ĐTTM và NTTM cần được tổ chức trong một mô hình lãnh thổ thống nhất, vận hành theo vùng chức năng và dựa trên dữ liệu (functional zones, data-driven). Cách tiếp cận “lãnh thổ thông minh” vì vậy phù hợp để nâng cao hiệu quả quản trị, thúc đẩy tăng trưởng xanh, cải thiện chất lượng sống và tăng năng lực thích ứng với BĐKH, đặc biệt đối với tỉnh có thế mạnh nông nghiệp như Vĩnh Long.

Với đặc thù châu thổ sông nước, Vĩnh Long nên tiếp cận theo “delta management”: tăng liên kết đô thị - nông thôn và ra quyết định dựa trên dữ liệu không gian, bản đồ ngập và dữ liệu thời gian thực. Lộ trình triển khai đề xuất theo chuỗi nền dữ liệu → thí điểm vùng → mở rộng/digital twin, gồm 3 pha:
1) 2026 - 2027: xây dựng nền dữ liệu dùng chung
2) 2027 - 2029: thí điểm vùng chức năng, theo dõi và đánh giá bằng KPI
3) 2029 - 2035: mở rộng toàn tỉnh và hình thành digital twin

Với cấu trúc lãnh thổ mới sau hợp nhất và lợi thế châu thổ, Vĩnh Long có thể trở thành địa phương tiên phong của ĐBSCL trong phát triển lãnh thổ thông minh, đóng góp mô hình thực tiễn cho chuyển đổi số và phát triển bền vững của cả nước, hướng tới tầm nhìn “Smart Mekong Province”.v

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Chính phủ. (2025). Nghị định số 269/2025/NĐ-CP về phát triển đô thị thông minh
2. Ủy ban Thường vụ Quốc hội. (2025). Nghị quyết số 111/2025/UBTVQH15 về phân loại đô thị (thông qua ngày 24/12/2025).
3. Thủ tướng Chính phủ. (2025). Quyết định số 51/2025/QĐ-TTg ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới giai đoạn 2026-2030.
4. UBND tỉnh Vĩnh Long; Sở Tài chính tỉnh Vĩnh Long. (2025). Báo cáo điều chỉnh Quy hoạch tỉnh Vĩnh Long thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050. 
5. Nguyễn Vũ Phương. Tích hợp quy hoạch đô thị bền vững gắn với cải cách chính quyền hai cấp ở Việt Nam. TCXD, 8/2025.
6. Nguyễn Vũ Phương. Đổi mới phân loại đô thị - nông thôn ở Việt Nam: tiếp cận chức năng - không gian và kinh nghiệm quốc tế. TCXD, 8/2025.
7. Nguyễn Vũ Phương. (2025). Đô thị thông minh và nông thôn thông minh trong bối cảnh chính quyền hai cấp: Tiếp cận tích hợp và chuyển đổi số lãnh thổ, TCXD, 10/2025.

PGS.TS.KTS Nguyễn Vũ Phương
Thế Công