Tốc độ tăng trưởng ngành Xây dựng đạt 7,34%

14:14 10/07/2024
Kết quả hoạt động 6 tháng đầu năm của Bộ Xây dựng mang tính toàn diện, tích cực với tốc độ tăng trưởng khá ấn tượng 7,34%, mức tăng trưởng cao nhất so với cùng kỳ các năm giai đoạn 2020-2024...
Tốc độ tăng trưởng ngành Xây dựng đạt 7,34%
Toàn cảnh Hội nghị.

Đạt mức tăng trưởng cao nhất cùng kỳ 5 năm

Sáng 10/7, Bộ Xây dựng tổ chức Hội nghị sơ kết công tác 6 tháng đầu năm 2024 và triển khai nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2024. Báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ 6 tháng đầu năm của Bộ Xây dựng cho thấy tốc độ tăng trưởng toàn ngành đạt 7,34%, là mức tăng trưởng cao nhất cùng kỳ các năm trong giai đoạn 2020-2024.

Trong đó, tốc độ tăng trưởng của hoạt động kinh doanh BĐS tăng 2,45% so với cùng kỳ năm 2023; Tỷ lệ đô thị hóa cả nước ước đạt trên 43,1%; Tỷ lệ người dân đô thị được cung cấp nước sạch qua hệ thống cấp nước tập trung ước đạt 92,9%; Tỷ lệ thất thoát, thất thu nước sạch 16,2%; Tỷ lệ tổng lượng nước thải được thu gom và xử lý 17%; Diện tích nhà ở bình quân 26,3 m2 sàn/người.

Bên cạnh đó, giá trị sản xuất và tiêu thụ so với cùng kỳ 6 tháng đầu năm 2023 của một số VLXD chủ yếu như sản xuất xi măng đạt 42 triệu tấn, tăng 9% so với cùng kỳ và tiêu thụ dự kiến đạt 43,4 triệu tấn giảm 2% so với cùng kỳ; Sản xuất gạch ốp lát đạt khoảng 186 triệu m2, tăng khoảng 3%, tiêu thụ khoảng 168 triệu m2, tương đương so với cùng kỳ.

Sản xuất sứ vệ sinh đạt gần 6 triệu sản phẩm, tiêu thụ khoảng 6,5 triệu sản phẩm, tương đương so với cùng kỳ; Sản xuất kính xây dựng đạt khoảng 106 triệu m2, giảm khoảng 12%, tiêu thụ khoảng 115 triệu m2, tăng khoảng 6% so với cùng kỳ; Sản xuất vật liệu xây đạt khoảng 10,85 tỷ viên QTC, tăng khoảng 3%.

Sản xuất đá ốp lát đạt trên 5 triệu m2, tiêu thụ đạt khoảng 4,8 triệu m2, giảm khoảng 10% so với cùng kỳ; Sản xuất tấm lợp fibro xi măng đạt khoảng 14,4 triệu m2, tiêu thụ đạt khoảng 14,2 triệu m2, tương đương so với cùng kỳ.

Bộ trưởng Nguyễn Thanh Nghị phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị.

Bộ trưởng Bộ Xây dựng Nguyễn Thanh Nghị ghi nhận, trong bối cảnh khó khăn chung của nền kinh tế thế giới, trong khu vực, trong nước và khó khăn nội tại của ngành Xây dựng, kết quả tăng trưởng của ngành Xây dựng đạt được mang tính toàn diện, tích cực nhờ sự nỗ lực của toàn thể các tổ chức, cá nhân trong ngành.

Tuy nhiên, vẫn còn nhiều tồn tại, hạn chế đòi hỏi phải có quyết tâm thực hiện cao hơn, bám sát thực tế, phản ứng kịp thời, đặc biệt phải có giải pháp khắc phục bằng được để hoàn thành tốt kế hoạch, nhiệm vụ trong 6 năm cuối năm.

Ưu tiên hoàn thiện Luật Quy hoạch đô thị và nông thôn

Chỉ đạo thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp trong 6 tháng cuối năm đối với từng lĩnh vực cụ thể, Bộ trưởng Nguyễn Thanh Nghị yêu cầu tiếp tục đẩy mạnh triển khai thực hiện các nhiệm vụ được giao theo đúng tiến độ yêu cầu, trong đó ưu tiên hoàn thiện Luật Quy hoạch đô thị và nông thôn theo ý kiến của Quốc hội; soạn thảo Luật Quản lý phát triển đô thị, dự án Luật Cấp, thoát nước bảo đảm tiến độ theo Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2025;

Hoàn thiện, trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành và ban hành theo thẩm quyền các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật Nhà ở 2023, Luật Kinh doanh BĐS 2023, bảo đảm chất lượng, tiến độ, có hiệu lực đồng thời với Luật; hoàn thiện hồ sơ Quy hoạch hệ thống đô thị và nông thôn thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn 2050 để Thủ tướng Chính phủ xem xét, phê duyệt.

Đáng chú ý, đối với công tác quản lý các hoạt động đầu tư xây dựng, tiếp tục hoàn thiện, trình Chính phủ ban hành Nghị định quy định cơ sở dữ liệu quốc gia về hoạt động xây dựng; Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 15/2021/NĐ-CP ngày 03/3/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số nội dung về quản lý dự án đầu tư xây dựng.

Tiếp tục tổ chức hướng dẫn, kiểm tra các địa phương về việc thực hiện pháp luật trong quản lý nhà nước về hoạt động xây dựng, chi phí đầu tư xây dựng, hợp đồng xây dựng theo kế hoạch; hướng dẫn các Bộ, ngành, địa phương các giải pháp tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc trong quản lý, đề xuất sửa đổi, bổ sung ban hành các quy định của pháp luật; tiếp tục rà soát, đánh giá các quy định về quản lý định mức, đơn giá và phương pháp xác định, định giá các dịch vụ công ích đô thị thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Xây dựng, đề xuất giải pháp thực hiện.

Thực hiện kiểm tra theo kế hoạch đối với công trình do Hội đồng Kiểm tra nhà nước về công tác nghiệm thu công trình xây dựng. Đôn đốc việc công bố giá VLXD, đơn giá nhân công, giá ca máy và thiết bị thi công, chỉ số giá xây dựng. Hoàn thiện hệ thống định mức xây dựng phục vụ sửa đổi, bổ sung Thông tư số 12/2021/TT-BXD; tiếp tục rà soát, đánh giá về tình hình thực hiện Thông tư số 12/2017/TT-BXD hướng dẫn xác định và quản lý chi phí liên quan đến đầu tư phát triển đô thị…

Trước đó, tại Hội nghị, đã có 8 ý kiến phát biểu của các địa phương, của cơ quan chuyên môn thuộc Bộ Xây dựng và ý kiến tham gia của Thứ trưởng Nguyễn Tường Văn, Thứ trưởng Bùi Xuân Dũng, thể hiện rõ trách nhiệm, bám sát với thực tế. Nhiều ý kiến rất hữu ích đã được Bộ trưởng Nguyễn Thanh Nghị đánh giá cao, ghi nhận sẽ nghiên cứu tiếp thu trong quá trình Bộ Xây dựng hoàn thiện xây dựng chính sách, cũng như thực hiện chức năng quản lý nhà nước.

Bốn giải pháp trọng tâm thực hiện nhiệm vụ, kế hoạch trong 6 tháng cuối năm 2024:

Một là, nắm chắc, chủ động nghiên cứu, dự báo chính xác, kịp thời tình hình quốc tế, trong nước và ngành Xây dựng để đề xuất, tham mưu các nhiệm vụ, giải pháp nhanh, hiệu quả, cụ thể, phù hợp với quy định pháp luật và thực tiễn.

Hai là, siết chặt hơn nữa kỷ luật, kỷ cương, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, chỉ đạo, điều hành và tổ chức thực hiện. Các đơn vị thực hiện rà soát việc phân công nhiệm vụ đúng người, đúng việc, đúng sở trường; khắc phục triệt để tình trạng né tránh, đùn đẩy công việc, trì trệ, không dám chịu trách nhiệm.

Ba là, nâng cao trách nhiệm của người đứng đầu, phát huy nguyên tắc tập trung dân chủ; chủ động, tăng cường phối hợp chặt chẽ, thường xuyên với các Bộ, ngành, cơ quan Trung ương và cấp ủy, chính quyền địa phương trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước của Bộ Xây dựng.

Bốn là, đổi mới cách thức và thường xuyên đi cơ sở, nắm bắt tình hình thực tiễn, kịp thời tháo gỡ và đề xuất tháo gỡ vướng mắc, khó khăn của các địa phương, đơn vị liên quan đến lĩnh vực quản lý nhà nước của ngành Xây dựng.

Bình luận