Trên thực tế, ngập nước không còn là vấn đề kỹ thuật đơn lẻ mà đã trở thành thách thức đa tầng, gắn với tốc độ đô thị hóa, sụt lún nền đất, sự thu hẹp hệ thống kênh rạch và khả năng thích ứng hạn chế của các quy hoạch được phê duyệt từ giai đoạn trước.
Trong bối cảnh TP.HCM mở rộng địa giới hành chính, không gian đô thị lớn hơn, cấu trúc hạ tầng đa dạng hơn và nhu cầu thoát nước liên vùng tăng mạnh, yêu cầu đặt ra là phải điều chỉnh quy hoạch thoát nước theo hướng cập nhật kịch bản khí hậu mới, đồng bộ theo lưu vực và tích hợp quản trị đô thị, nước và môi trường. Đây chính là điều kiện tiên quyết để bảo đảm an toàn đô thị, nâng cao chất lượng sống và tạo nền tảng phát triển bền vững.
159 điểm ngập, sụt lún gia tăng và sức ép đầu tư hàng trăm nghìn tỷ đồng
Sau khi mở rộng địa giới hành chính, TP.HCM ghi nhận 159 điểm ngập thường xuyên, trong đó khu vực TP.HCM (cũ) có 76 điểm, Bình Dương 52 điểm và Bà Rịa - Vũng Tàu 31 điểm. Sở Xây dựng đánh giá tại khu vực TP.HCM (cũ), tình trạng ngập vẫn diễn ra ở nhiều điểm thấp, khu vực có mật độ xây dựng dày đặc, hạ tầng cũ và thiếu không gian trữ nước.
Nhiều tuyến đường như: Nguyễn Hữu Cảnh, Ung Văn Khiêm, Đinh Bộ Lĩnh, Trần Xuân Soạn, Kinh Dương Vương, Lương Định Của, Tân Kỳ Tân Quý… thường xuyên ngập khi mưa lớn hoặc khi mưa trùng triều.
Đáng chú ý, các khu dân cư ven kênh rạch chịu tác động nặng do tình trạng lấn chiếm, bồi lắng, thu hẹp mặt cắt dòng chảy, khiến nước mưa không còn “đường thoát”, buộc dồn về hệ thống cống vốn đã quá tải.
Bên cạnh đó, sụt lún nền đất đang trở thành nhân tố làm trầm trọng hóa ngập đô thị. Khu vực TP.HCM (cũ) được ghi nhận lún nhanh và trên diện rộng, tốc độ lún trung bình khoảng 2 cm/năm, nhiều khu vực đạt 2 - 5 cm/năm, riêng vùng mật độ xây dựng cao có thể lên tới 7 - 8 cm/năm.
Tổng độ lún theo thời gian phổ biến 20 - 30 cm, một số điểm vượt 50 cm. Sụt lún làm giảm độ dốc cống, tăng nguy cơ ứ đọng, đồng thời khiến nhiều thiết kế kỹ thuật theo thông số cũ mất dần hiệu quả. Trong điều kiện mưa cực đoan gia tăng, “ngập do mưa” và “ngập do triều” càng dễ chồng lấn, biến sự cố cục bộ thành rủi ro hệ thống.
Để xử lý ngập nước căn cơ, TP.HCM cần triển khai khoảng 157 dự án chống ngập đến năm 2030 với tổng vốn ước tính 348.000 tỷ đồng. Riêng năm 2026, nhu cầu vốn khoảng 38.000 tỷ đồng để thực hiện 24 dự án, xử lý 29 điểm ngập. Song song đó, thành phố đặt mục tiêu đến năm 2030 chỉnh trang đô thị, di dời khoảng 20.000 căn nhà trên và ven kênh rạch, triển khai khoảng 43 dự án di dời kết hợp cải tạo môi trường và nâng năng lực thoát nước.
Đây là hướng tiếp cận quan trọng, bởi muốn chống ngập bền vững không thể chỉ mở rộng cống rãnh mà cần khôi phục không gian nước, cải thiện hệ sinh thái đô thị và tái cấu trúc những khu vực “khóa dòng chảy” trong nhiều năm.
Quy hoạch lạc hậu và yêu cầu điều chỉnh theo lưu vực, tích hợp liên vùng
Một trong những hạn chế lớn nhất được Sở Xây dựng chỉ rõ là quy hoạch thoát nước - chống ngập đã lạc hậu. TP.HCM từng triển khai nhiều chương trình theo các quy hoạch được phê duyệt, như Quy hoạch thoát nước theo Quyết định 752/QĐ-TTg (2001), Quy hoạch thủy lợi - kiểm soát triều theo Quyết định 1547/QĐ-TTg (2008), và điều chỉnh Quy hoạch chung theo Quyết định 1125/QĐ-TTg (2025).
Tuy nhiên, phần lớn quy hoạch chuyên ngành thoát nước trước năm 2020 sử dụng thông số mưa, thủy triều và giả định nền địa hình chưa cập nhật biến đổi khí hậu, chưa tính đủ tác động sụt lún. Điều này khiến nhiều dự án dù đã triển khai vẫn chỉ đạt một phần mục tiêu, trong khi phạm vi ngập ngày càng mở rộng và mức ngập sâu hơn.
Một nguyên nhân trọng yếu khác là thiếu nguồn lực đầu tư. Ngân sách hiện chỉ đáp ứng khoảng 30% nhu cầu, nhiều dự án kéo dài tiến độ, phân bổ vốn còn manh mún trong khi cơ chế huy động xã hội hóa chưa đủ linh hoạt.
Trong bối cảnh đó, yêu cầu cấp bách là phải rà soát và cập nhật toàn diện quy hoạch theo tư duy mới: quy hoạch theo lưu vực, kết hợp đồng bộ đê bao, cống kiểm soát triều, trạm bơm, cửa xả và hồ điều tiết và gắn chặt với quản lý không gian kênh rạch.
TP.HCM xác định trước mắt cần tập trung hoàn thành dự án chống ngập do triều khu vực TP.HCM có xét đến biến đổi khí hậu (giai đoạn 1) đang dang dở, đồng thời khép kín phạm vi bảo vệ của các cống kiểm soát triều theo quy hoạch 1547.
Các chuyên gia cũng chỉ ra rằng các lớp kiểm soát ngập đã được triển khai nhiều năm qua, nhưng thiếu kinh phí và đô thị hóa không đồng bộ với thoát nước khiến hiệu quả chưa đạt kỳ vọng.
Nhiều tuyến kênh rạch bị san lấp, lấn chiếm, mặt cắt giảm mạnh trong khi các dự án đô thị mới chưa gắn chặt với yêu cầu thoát nước tổng thể. Hệ quả là nước mưa bị “kẹt”, không có không gian trữ và không có dòng chảy tự nhiên để tiêu thoát.
Vì vậy, TP.HCM dự kiến rà soát nguyên nhân theo từng lưu vực, phân loại điểm ngập theo mức độ ảnh hưởng để triển khai cải tạo phù hợp, như mở rộng tiết diện cống, bổ sung miệng thu - hố ga, tăng năng lực trạm bơm và khôi phục liên thông dòng chảy.
Thành phố cũng định hướng mở rộng hệ thống hồ điều tiết theo lưu vực, khôi phục không gian nước lớn, kết hợp mô hình hồ điều hòa ngầm tại các quỹ đất công cộng nhằm tăng khả năng điều hòa nước đô thị khi mưa cực đoan.
Về dài hạn, TP.HCM cần tổ chức điều chỉnh quy hoạch chuyên ngành thoát nước đã hết niên hạn, cập nhật kịch bản khí hậu mới, đồng thời xem xét thuê tư vấn quốc tế để xây dựng quy hoạch chuyên ngành theo tư duy tích hợp, bảo đảm đồng bộ liên vùng và phù hợp với thực tiễn sau sáp nhập địa giới hành chính.
Điều chỉnh quy hoạch thoát nước vì vậy chính là bước đi chiến lược để TP.HCM chuyển từ “ứng phó ngập” sang kiến tạo một đô thị thích ứng, an toàn và bền vững trước biến đổi khí hậu.

Biến đổi khí hậu đang hiện diện ngày càng rõ trong đời sống đô thị, đặc biệt tại TP.HCM, nơi mỗi trận mưa lớn, mỗi kỳ triều cường đều có thể kích hoạt các “điểm yếu” hạ tầng và làm lộ rõ tính mong manh của hệ thống thoát nước. 

