Bộ Công Thương ban hành Thông tư số 61/2026/TT-BCT ngày 29/9/2026, kèm theo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về trụ sạc, trạm sạc xe điện, ký hiệu QCVN 32:2026/BCT. Thông tư có hiệu lực từ ngày 01/7/2027 (khoản 1 Điều 2 Thông tư).
Quy chuẩn quy định yêu cầu kỹ thuật và quản lý đối với thiết bị sạc; hệ thống cấp điện, phân phối điện và đấu nối; bố trí, lắp đặt; an toàn điện; hệ thống điều khiển; quản lý vận hành và khai thác (mục 1.1.1 Quy chuẩn).
Công bố hợp quy, xác định rõ phạm vi áp dụng
Trụ sạc xe điện sản xuất, lắp ráp trong nước và nhập khẩu phải được công bố hợp quy, gắn dấu hợp quy trước khi đưa ra lưu thông trên thị trường (mục 4.1.1 và 4.1.2).
Việc công bố phải dựa trên kết quả chứng nhận hợp quy của tổ chức chứng nhận được chỉ định theo pháp luật. Chứng nhận hợp quy thực hiện theo phương thức 5 hoặc phương thức 7 quy định tại Thông tư số 14/2026/TT-BKHCN ngày 9/4/2026 của Bộ KH&CN quy định về công bố hợp chuẩn, công bố hợp quy và phương thức đánh giá sự phù hợp với tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật(mục 4.1.3 và 4.1.4).
Về kỹ thuật, trụ sạc phải đáp ứng yêu cầu: chống điện giật, an toàn giao diện điện dẫn, bộ tiếp hợp, cụm cáp, kết cấu thiết bị, bảo vệ quá tải và ngắn mạch (mục 2.2). Các yêu cầu về tương thích điện từ, truyền thông và yêu cầu bổ sung đối với trụ sạc một chiều được quy định tại các mục 2.3, 2.4 và 2.5.
Giao diện người sử dụng phải bằng tiếng Việt, được sử dụng thêm ngôn ngữ khác. Tổ chức, cá nhân sản xuất, lắp ráp, nhập khẩu phải cung cấp hướng dẫn lắp đặt và sử dụng bằng tiếng Việt (mục 2.7).
Kết quả thử nghiệm, chứng nhận của tổ chức nước ngoài chỉ được sử dụng trong phạm vi, thời hạn và điều kiện thừa nhận theo pháp luật. Việc công nhận năng lực phòng thử nghiệm hoặc cấp chứng nhận quốc tế không thay thế cơ chế thừa nhận và kết luận hợp quy theo pháp luật Việt Nam (mục 4.3.1 và 4.3.2).
Đối với trạm sạc, Quy chuẩn áp dụng tại khu vực công cộng, nơi trông giữ xe tập trung, trạm dừng nghỉ và các khu vực tương tự (mục 1.1.2).
Quy chuẩn loại trừ trạm sạc bên trong công trình xây dựng, gồm tầng hầm, tầng nửa hầm, nhà để xe, khu đỗ xe trong nhà và không gian được kết cấu xây dựng bao che một phần hoặc toàn bộ. Trạm ngoài trời hoặc dưới mái che độc lập chỉ có chức năng che mưa, che nắng không thuộc trường hợp loại trừ này (mục 1.1.5.1).
Trạm chỉ phục vụ nhu cầu nội bộ, không cung cấp dịch vụ sạc thương mại cũng không thuộc phạm vi áp dụng đối với trạm (mục 1.1.5.4). Tuy nhiên, trụ sạc được sản xuất, lắp ráp, nhập khẩu, lưu thông hoặc lắp đặt vẫn phải đáp ứng yêu cầu đối với trụ sạc, trừ các thiết bị và trường hợp quy định tại mục 1.1.5.2 và 1.1.5.3 (mục 1.1.4).
Kiểm tra an toàn, minh bạch thông tin dịch vụ sạc
Trạm sạc phải được thiết kế đồng bộ giữa hệ thống cấp điện, phân phối điện, trụ sạc, bảo vệ, nối đất, chống sét, giám sát, điều khiển, PCCC, chiếu sáng, biển báo, tổ chức giao thông và hạ tầng phụ trợ (mục 3.1.3).
Vị trí bố trí phải phù hợp mục đích sử dụng đất, công năng khu vực và tổ chức giao thông nội bộ; không cản trở lối ra vào, lối thoát nạn, đường xe chữa cháy và khả năng tiếp cận của phương tiện ứng cứu, người đi bộ (mục 3.2.1). Trạm ngoài trời phải có giải pháp thoát nước, chống đọng nước tại chân bệ móng và khu vực đấu nối (mục 3.2.10).
Trạm phải có thiết bị hoặc cơ cấu ngắt điện khẩn cấp tại vị trí dễ tiếp cận, có ký hiệu rõ ràng, cho phép cô lập nhanh nguồn điện khi xảy ra sự cố (mục 3.4.1). Sau khi ngắt khẩn cấp, chỉ được cấp điện trở lại khi đã xác định nguyên nhân, loại trừ nguy cơ mất an toàn và người có trách nhiệm quyết định đóng điện. Việc đặt lại thiết bị ngắt không được làm phiên sạc tự động khởi động lại (mục 3.4.3).
Trạm chỉ được đưa vào vận hành sau khi hoàn thành kiểm tra, thử nghiệm và nghiệm thu các hạng mục thuộc phạm vi thiết kế (mục 4.5.1). Kết quả kiểm tra phải có kết luận đạt hoặc không đạt; phần không đạt phải được khắc phục, kiểm tra lại trước khi vận hành (mục 3.7.7).
Trụ sạc lắp trong trạm phải có hồ sơ kỹ thuật, hồ sơ chứng nhận và công bố hợp quy. Không được lắp đặt, sử dụng trụ sạc không rõ nguồn gốc, thiếu tài liệu kỹ thuật hoặc không đáp ứng yêu cầu an toàn (mục 4.5.4).
Về khả năng dùng chung, trạm phải phục vụ được phương tiện có cổng sạc tương thích với loại đầu nối, chế độ sạc và cấu hình kỹ thuật mà trạm hỗ trợ (mục 1.3.3). Hồ sơ phải xác định khả năng tương thích; chức năng điều khiển không được hạn chế khả năng tương thích đã công bố khi các điều kiện kỹ thuật, xác thực và an toàn không thay đổi (mục 3.3.5).
Tổng công suất tiêu thụ không được vượt công suất được phép tại điểm đấu nối và khả năng của hệ thống phân phối điện nội bộ. Trường hợp thiết kế dựa vào việc điều chỉnh phối hợp công suất giữa nhiều trụ sạc, hệ thống phải có chức năng quản lý phụ tải tự động và đưa về trạng thái an toàn khi điều khiển bị lỗi (mục 3.5.5).
Đối với dịch vụ có thu tiền, người sử dụng phải được cung cấp trước và trong giao dịch thông tin về điện năng, thời gian, giá hoặc phương pháp tính giá và tổng số tiền. Dữ liệu giao dịch phải toàn vẹn, chống sửa đổi hoặc xóa trái phép và có thể truy xuất (mục 3.5.4).
Đơn vị vận hành phải duy trì quy trình vận hành, xử lý sự cố, ngắt điện khẩn cấp, hỗ trợ người sử dụng và kế hoạch kiểm tra, bảo trì định kỳ (mục 4.6.1). Dữ liệu vận hành, đo lường, thanh toán và phản ánh của người dùng phải được lưu trữ, bảo vệ; việc xử lý dữ liệu cá nhân phải tuân thủ pháp luật (mục 4.7.2).
Rà soát trạm đang hoạt động, khắc phục trong 24 tháng
Trụ sạc đã được lắp đặt hợp pháp trước ngày Thông tư có hiệu lực được tiếp tục sử dụng. Chủ sở hữu, đơn vị vận hành phải duy trì vận hành an toàn, kiểm tra, bảo trì và khắc phục khiếm khuyết (khoản 2 Điều 2 Thông tư).
Đối với trạm đã hoạt động trước ngày 01/7/2027, chủ đầu tư, chủ sở hữu và đơn vị vận hành phải rà soát việc đáp ứng yêu cầu an toàn trong thời hạn 6 tháng; hoàn thành khắc phục nội dung chưa đáp ứng trong thời hạn 24 tháng kể từ ngày Thông tư có hiệu lực (điểm a, b khoản 3 Điều 2 Thông tư).
Khi sửa chữa, cải tạo, mở rộng hoặc thay đổi cấu hình từ ngày Thông tư có hiệu lực, phần được thay đổi phải đáp ứng Quy chuẩn và pháp luật liên quan (điểm c khoản 3 Điều 2 Thông tư).
Trạm đã khởi công nhưng chưa nghiệm thu, vận hành phải cập nhật thiết kế đối với phần chưa thi công; rà soát, đánh giá phần đã thi công trên cơ sở hồ sơ và bằng chứng kỹ thuật. Trạm chỉ được nghiệm thu, đưa vào vận hành khi đáp ứng điều kiện của Quy chuẩn (khoản 4 Điều 2 Thông tư).
Nguy cơ trực tiếp phải được xử lý ngay. Khi phát hiện nguy cơ điện giật, cháy, nổ, mất ổn định kết cấu hoặc hư hỏng phương tiện, hệ thống điện, chủ sở hữu hoặc đơn vị vận hành phải cảnh báo, ngừng vận hành hoặc cô lập phần bị ảnh hưởng. Nếu không thể cô lập an toàn, phải ngừng toàn bộ trạm (điểm a, b khoản 5 Điều 2 Thông tư).
Quy chuẩn không thay thế thủ tục hoặc thẩm quyền quản lý chuyên ngành (mục 1.3.2), không tạo thêm thủ tục chấp thuận trạm sạc (mục 3.5.2). Cục Công nghiệp chủ trì hướng dẫn thực hiện, tổng hợp khó khăn, vướng mắc để báo cáo cơ quan có thẩm quyền xem xét, xử lý (mục 6.1.1).
Bộ Công Thương nhấn mạnh an toàn của toàn bộ trạm sạc
Theo thuyết minh xây dựng quy chuẩn của Bộ Công Thương, trụ sạc đáp ứng yêu cầu an toàn sản phẩm là điều kiện cần nhưng chưa đủ để bảo đảm an toàn cho toàn bộ trạm sạc. An toàn của trạm còn phụ thuộc vào thiết kế, khả năng cấp điện, đấu nối, hệ thống bảo vệ, nối đất, chống sét, thoát nước, tổ chức giao thông, PCCC và năng lực vận hành.
Do đó, việc xây dựng quy chuẩn cho cả trụ sạc và trạm sạc nhằm quản lý đồng bộ từ chất lượng thiết bị đưa ra thị trường đến hệ thống sau lắp đặt, khắc phục tình trạng chỉ kiểm soát thiết bị riêng lẻ nhưng thiếu yêu cầu đối với bố trí, đấu nối và vận hành tại địa điểm sử dụng.
Bộ Công Thương xác định trụ sạc được quản lý theo cơ chế chất lượng sản phẩm, hàng hóa; trạm sạc được quản lý thông qua hồ sơ thiết kế, lắp đặt, nghiệm thu và điều kiện vận hành, không đặt ra thủ tục chứng nhận hợp quy cho toàn bộ trạm. Các yêu cầu chủ yếu kế thừa quy định về điện lực, PCCC, xây dựng và đo lường, hạn chế phát sinh thủ tục mới.

Trụ sạc xe điện sản xuất, lắp ráp trong nước và nhập khẩu phải công bố hợp quy, gắn dấu hợp quy trước khi đưa ra thị trường từ ngày 01/7/2027. Trạm sạc đang hoạt động phải rà soát yêu cầu an toàn trong 6 tháng và hoàn thành khắc phục trong 24 tháng. 

