Ứng dụng kinh nghiệm quốc tế trong quản lý, vận hành và khai thác đường cao tốc Việt Nam

08:35 11/11/2025
Quản lý, vận hành và khai thác đường cao tốc được nghiên cứu, kết hợp giải pháp khoa học - công nghệ, cơ chế phù hợp sẽ góp phần xây dựng hệ thống giao thông hiện đại, an toàn và bền vững.

Ngày 10/11 tại Hà Nội, Trường Đại học Xây dựng Hà Nội phối hợp với Cục Đường bộ Việt Nam tổ chức Hội thảo khoa học “Kinh nghiệm quốc tế trong quản lý, vận hành, khai thác đường cao tốc và đề xuất ứng dụng tại Việt Nam”.
Hội thảo có sự tham dự của các nhà quản lý, chuyên gia, nhà khoa học và đại diện các doanh nghiệp hạ tầng giao thông trên toàn quốc. Nhằm trao đổi, học hỏi kinh nghiệm quốc tế, thảo luận các giải pháp khoa học - công nghệ và đề xuất cơ chế, chính sách phù hợp cho điều kiện Việt Nam.

PGS.TS Hoàng Tùng - Hiệu trưởng Trường ĐH Xây dựng Hà Nội phát biểu tại Hội thảo.

Chuẩn hóa an toàn đường cao tốc

Hơn một thập niên qua, hạ tầng giao thông Việt Nam phát triển mạnh, đặc biệt là mạng lưới cao tốc, dự kiến đạt 3.000 km vào cuối 2025, 5.000 km năm 2030 và hơn 9.000 km sau đó, trở thành “xương sống” của hệ thống vận tải quốc gia. Tuy nhiên, hệ thống này vẫn đối mặt nhiều thách thức: ùn tắc tại cửa ngõ lớn, hạ tầng chưa đồng bộ, thiếu trạm dừng và giám sát thông minh; công tác kiểm soát, xử lý sự cố còn hạn chế, phối hợp giữa các đơn vị chưa hiệu quả, trong khi ý thức người tham gia giao thông vẫn là vấn đề đáng lo ngại.

Trong bối cảnh này, PGS.TS Hoàng Tùng - Hiệu trưởng Trường Đại học Xây dựng Hà Nội, nhấn mạnh: “Quản lý, vận hành và khai thác đường cao tốc hiệu quả, an toàn và bền vững đòi hỏi tầm nhìn chiến lược, cơ sở khoa học vững chắc và sự phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan quản lý, doanh nghiệp và giới học thuật. Đây là chìa khóa để giải quyết các vấn đề tồn tại, từ tai nạn giao thông, ùn tắc đến thiếu đồng bộ trong quản lý.”

Ông Nguyễn Thanh Hoài - Phó cục trưởng Cục Đường bộ Việt Nam phát biểu tại Hội thảo.

Theo ThS Nguyễn Tiến Hồng - Phòng Quản lý, Tổ chức Giao thông, Cục Đường bộ Việt Nam, việc nâng cấp hạ tầng, đồng bộ công nghệ và quản lý chủ động là cấp thiết để đảm bảo an toàn và hiệu quả vận hành cao tốc.

Để hướng tới mục tiêu “Zero Fatalities”, ngành giao thông cần đồng bộ nhiều giải pháp: chuẩn hóa tổ chức làn, kiểm soát tốc độ, hoàn thiện hạ tầng theo chuẩn quốc tế; nâng cấp hệ thống báo hiệu, vạch kẻ và kiểm toán an toàn độc lập. Song song, xây dựng trung tâm điều hành cao tốc quốc gia, ứng dụng AI và dữ liệu lớn để giám sát, dự báo rủi ro; tăng cường phối hợp liên ngành, công khai dữ liệu và đẩy mạnh tuyên truyền, đào tạo kỹ năng an toàn. Mục tiêu là hình thành hệ thống giao thông an toàn, hiện đại, bền vững cho Việt Nam đến năm 2050.

ThS Nguyễn Tiến Hồng - Phòng Quản lý, Tổ chức Giao thông, Cục Đường bộ Việt Nam trình bày tham luận tại Hội thảo.

Để triển khai các giải pháp an toàn một cách toàn diện, bên cạnh nâng cao năng lực thông hành, việc chuẩn hóa hệ thống báo hiệu đường cao tốc cũng đóng vai trò then chốt.

Với KS Nguyễn Tiến Huy - Hội An toàn giao thông Việt Nam, thực trạng hệ thống báo hiệu là bước quan trọng để nhận diện điểm mạnh, điểm yếu và các vấn đề tồn tại trong hệ thống giao thông. Ở Việt Nam, Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về báo hiệu đường bộ QCVN 41:2024/BGTVT đã quy định hệ thống báo hiệu cao tốc, nhưng vẫn còn hạn chế về tính thống nhất, khả năng nhận diện và dẫn hướng. Do đó, cần sửa đổi, bổ sung QCVN 41:2024/BGTVT, xây dựng sổ tay định hình hệ thống biển báo và vạch kẻ đường, kết hợp chương trình tập huấn chuyên sâu cho công tác thiết kế và thẩm tra an toàn. Những giải pháp này hướng tới chuẩn hóa hệ thống báo hiệu theo tiêu chí “5D”, góp phần hình thành mạng lưới giao thông thông minh, an toàn và bền vững cho tương lai.

Trong quá trình hiện đại hóa mạng lưới cao tốc quốc gia, hệ thống báo hiệu đóng vai trò then chốt, bảo đảm an toàn, duy trì năng lực lưu thông và hỗ trợ người lái tiếp nhận thông tin chính xác. Trước tốc độ phát triển nhanh của hạ tầng, việc chuẩn hóa và hiện đại hóa hệ thống báo hiệu trở thành ưu tiên nhằm nâng cao hiệu quả khai thác và giảm thiểu tai nạn giao thông.

Quản lý, khai thác cao tốc thông minh

PGS.TS Vũ Hoài Nam - Khoa Cầu Đường, Trường Đại học Xây dựng Hà Nội giới thiệu hệ thống quản lý giao thông chủ động (Active Traffic Management - ATM) nhằm tăng năng lực thông hành và giảm ùn tắc mà không cần mở rộng mặt đường truyền thống. Mô hình này xuất hiện từ năm 2006 trên đoạn M42 Motorway (Midlands, Anh) dưới dạng thử nghiệm cho phép dải dừng xe khẩn cấp lưu thông vào giờ cao điểm. Sau đó, nhiều dự án tương tự được mở rộng. Theo tổ chức RoSPA (Royal Society for the Prevention of Accidents), hiện khoảng 10% mạng lưới Motorway ở Anh là Smart Motorway.

Mục tiêu chính của mô hình là tăng năng lực thông hành mà không xây thêm làn mới. Từ đó tiết kiệm chi phí, giảm tác động môi trường và rút ngắn thời gian thi công. Hệ thống này còn cho phép phản ứng linh hoạt với tình trạng giao thông: khi cao điểm, giới hạn tốc độ thấp để tránh hiện tượng stop-start; khi thấp điểm, tốc độ có thể tăng lên. Về môi trường, dòng xe di chuyển ổn định sẽ giảm lượng phát thải, là lý do ưu tiên phương án này thay vì mở rộng đường.

ATM gồm ba loại chính: Controlled Motorway (CMW) đường nhiều làn với dải dừng khẩn nhưng giới hạn tốc độ theo thời gian thực; Dynamic Hard Shoulder Running (DHS) dải dừng khẩn có thể mở thành làn chạy giờ cao điểm khi mật độ giao thông cao; All Lane Running (ALR) dải dừng khẩn bị bỏ để làm làn chạy thường xuyên, thay thế bằng khu vực lánh khẩn cấp cách nhau khoảng 1,5 miles (khoảng 2,5 km).

Theo PGS. TS Vũ Hoài Nam tại Việt Nam hiện nay, thực tế đã khai thác cả ba loại tương tự và từ kinh nghiệm thực tiễn kết hợp cơ sở khoa học về kỹ thuật và an toàn giao thông, các khuyến nghị vận dụng vào Việt Nam đã được phân tích kỹ lưỡng để nâng cao hiệu quả và an toàn trên đường cao tốc.

PGS.TS Vũ Hoài Nam - Trường ĐH Xây dựng Hà Nội giới thiệu hệ thống quản lý giao thông chủ động.

TS Nguyễn Thị Thu Ngà - Khoa Công trình, Trường Đại học Công nghệ Giao thông vận tải, cho biết, trong bối cảnh mạng lưới đường bộ cao tốc Việt Nam đang phát triển mạnh mẽ, yêu cầu nâng tầm quản lý, vận hành và khai thác an toàn không còn chỉ dừng ở “duy tu - bảo dưỡng” theo tình trạng, mà phải chuyển sang quản lý dựa trên hiệu suất (Performance-based Management). Đây là xu thế tất yếu, được khẳng định trong các khung chính sách toàn cầu của PIARC, OECD/ITF, JICA, FHWA và các mô hình tiên tiến tại Hàn Quốc, Nhật Bản, Mỹ và châu Âu.

Trên cơ sở kinh nghiệm quốc tế và các nghiên cứu thực tiễn, TS Nguyễn Thị Thu Ngà đưa ra đề xuất khung chỉ số hiệu suất chính (KPI) cho quản lý và khai thác đường cao tốc Việt Nam, gồm bốn thành phần cốt lõi: Kỹ thuật - hạ tầng, Hiệu quả vận hành kỹ thuật, An toàn & rủi ro, Trải nghiệm & bền vững. Hệ thống KPI không chỉ cung cấp công cụ định lượng để giám sát hiệu quả vận hành, phát hiện sớm các bất thường, tối ưu hóa điều phối giao thông và nâng cao an toàn, mà còn có thể tích hợp vào cơ chế Payment-by-Performance (PBP). Khi đó, KPI trở thành cầu nối giữa dữ liệu - tài chính - trách nhiệm, biến kết quả vận hành (performance outcomes) thành căn cứ pháp lý và kinh tế để thanh toán, thưởng, phạt và ra quyết định điều hành.

TS Nguyễn Thị Thu Ngà - Trường ĐH Công nghệ Giao thông vận tải, đề xuất khung chỉ số hiệu suất chính (KPI) cho quản lý  đường cao tốc Việt Nam,

Song song với việc nâng cấp hạ tầng, chuẩn hóa hệ thống báo hiệu và xây dựng hệ thống KPI, việc ứng dụng công nghệ số và máy bay không người lái (UAV) đang mở ra hướng đi mới cho quản lý, vận hành cao tốc Việt Nam.

Ông Lê Châu Thắng - Phó Tổng giám đốc Công ty CP Đầu tư Hạ tầng giao thông Đèo Cả cho biết, trong giai đoạn phát triển mạnh mẽ của hạ tầng giao thông, phần lớn các tuyến cao tốc đang ở giai đoạn đầu tư 1, chưa có hệ thống camera giám sát đầy đủ. Phương thức quản lý vận hành hiện nay vẫn chủ yếu thủ công, thiếu tự động hóa và chưa tận dụng được sức mạnh của công nghệ số.

Những hạn chế này đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc chuyển đổi từ vận hành thủ công sang quản lý số hóa, tự động và chủ động giám sát rủi ro, hướng tới mục tiêu “quản lý vận hành cao tốc thông minh”. Ứng dụng UAV cho phép theo dõi tình trạng mặt đường, ghi nhận sự cố, giám sát tiến độ thi công và phản ứng nhanh với tình huống bất thường, đồng thời tích hợp dữ liệu vào trung tâm điều hành thông minh. Giải pháp này không chỉ nâng cao hiệu quả giám sát, tăng khả năng ứng cứu, mà còn góp phần giảm ùn tắc, đảm bảo an toàn và tối ưu hóa hiệu suất vận hành trên toàn mạng lưới cao tốc.

Công nghệ UAV cho phép tự động thu thập dữ liệu hình ảnh, lập bản đồ số 3D, phát hiện hư hỏng kết cấu, sạt lở và các nguy cơ mất an toàn, đồng thời tích hợp với hệ thống ITS và mô hình Digital Twin để phục vụ công tác ra quyết định bảo trì theo thời gian thực. Báo cáo cũng tổng hợp kinh nghiệm quốc tế từ Anh, Đức, Pháp, Nhật Bản và Hàn Quốc, cho thấy UAV đang trở thành xu hướng tất yếu trong quản lý hạ tầng hiện đại.

Ông Lê Châu Thắng khẳng định, việc ứng dụng UAV là bước tiến chiến lược trong chuyển đổi số công tác quản lý và vận hành đường cao tốc Việt Nam. Giải pháp này giúp nâng cao hiệu quả giám sát, giảm chi phí, tăng cường an toàn, đồng thời hướng tới xây dựng hệ thống giao thông thông minh, bền vững và tự động hóa trong tương lai.

Kiến tạo giao thông - Phát triển bền vững

Ông Trịnh Quang Mộng - Phó phòng Quản lý vận hành, Công ty Quản lý khai thác Đường ô tô cao tốc Hà Nội - Hải Phòng cho biết, hệ thống giải pháp tổng thể hướng tới mục tiêu “Zero Fatalities” là lấy con người làm trung tâm và coi an toàn tuyệt đối là giá trị cốt lõi của mọi chính sách hạ tầng. Các giải pháp bao gồm: chuẩn hóa kỹ thuật cao tốc theo Luật Đường bộ 2024 và QCVN 41:2024/BGTVT, xây dựng Trung tâm Điều hành Cao tốc Quốc gia (National TOC) dựa trên nền tảng Big Data - AI, ứng dụng ITS, Digital Twin, hệ thống cảnh báo sớm và giám sát thông minh để chuyển từ mô hình quản lý thụ động sang chủ động.

Ông Trịnh Quang Mộng cũng nhấn mạnh cần đổi mới thể chế quản trị, phân cấp và tăng quyền tự chủ cho doanh nghiệp khai thác, áp dụng cơ chế xử phạt nguội, chấm điểm hành vi lái xe (Driving Behavior Index), cùng với đào tạo kỹ năng lái xe trên cao tốc và nâng cao ý thức tuân thủ luật giao thông.

Về bước chuyển tiếp trong ứng dụng công nghệ thu phí không dừng tại hệ thống đường cao tốc Việt Nam PGS.TS Đinh Văn Hiệp - Khoa Cầu Đường, Trường Đại học Xây dựng Hà Nội cho biết, trong những năm gần đây, hệ thống thu phí tự động không dừng (ETC) đã được triển khai trên hầu hết các tuyến cao tốc và một số quốc lộ trọng điểm, giúp rút ngắn thời gian qua trạm, giảm chi phí xã hội, hạn chế tiếp xúc trực tiếp và nâng cao tính minh bạch trong quản lý doanh thu. Đây là bước tiến quan trọng hướng tới hiện đại hóa hạ tầng giao thông đường bộ. 

PGS.TS Đinh Văn Hiệp - Trường ĐH Xây dựng Hà Nội chia sẻ về hệ thống thu phí tự động không dừng (ETC).

Tại Hội thảo, Phó cục trưởng Cục Đường bộ Việt Nam Nguyễn Thanh Hoài đã nhấn mạnh vai trò chiến lược của việc chuẩn hóa hệ thống, vận hành thông minh và phát triển bền vững trong ngành giao thông đường bộ.

Phó Cục trưởng nhấn mạnh bốn trụ cột chiến lược trong phát triển giao thông: Chuẩn hóa an toàn; điều hành thông minh; kiến tạo giao thông; phát triển bền vững.

Chuẩn hóa an toàn là nền tảng, hướng tới hệ thống quản lý rủi ro và kỹ thuật chuẩn quốc tế để ngăn ngừa tai nạn. Điều hành thông minh dựa trên dữ liệu thời gian thực và trí tuệ nhân tạo, cho phép dự báo, cảnh báo sớm thay vì xử lý hậu quả. Kiến tạo giao thông đòi hỏi phối hợp giữa các đơn vị quản lý, đầu tư và xây dựng nhằm hình thành hệ thống vận hành khoa học, hiệu quả. Phát triển bền vững hướng tới vận hành ổn định, minh bạch và áp dụng tiêu chuẩn quốc tế như ISO 39001:2012, giúp giảm rủi ro và nâng cao cơ hội đấu thầu và khẳng định vị thế trên bản đồ logistics toàn cầu.

Đại biểu tham dự Hội thảo.

Phó cục trưởng Nguyễn Thanh Hoài kết luận: Chuẩn hóa an toàn; điều hành thông minh; kiến tạo giao thông; phát triển bền vững không chỉ là khẩu hiệu, mà là hệ tư tưởng quản trị ngành đường bộ Việt Nam trong kỷ nguyên mới, là tuyên ngôn về giá trị sống, văn minh và trách nhiệm thể chế.

Kết thúc hội thảo, các đại biểu thống nhất: Việt Nam cần sớm ban hành khung thể chế đồng bộ về quản lý vận hành cao tốc, xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia và Trung tâm điều hành giao thông thông minh để kết nối, giám sát và xử lý sự cố trên toàn mạng lưới.

Mục tiêu cuối cùng được xác định rõ ràng: “Zero Fatalities” không còn tử vong do tai nạn giao thông nghiêm trọng, thông qua ba trụ cột là thể chế - công nghệ - con người.

 Đại diện Trường ĐH Xây dựng Hà Nội và Cục Đường bộ Việt Nam ký biên bản ghi nhớ hợp tác.

Cũng trong khuôn khổ hội thảo, Trường Đại học Xây dựng Hà Nội và Cục Đường bộ Việt Nam đã ký biên bản ghi nhớ hợp tác, tập trung vào nâng cao chất lượng đường bộ và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao. Với vai trò tiên phong trong nghiên cứu và đề xuất các giải pháp khoa học, Trường Đại học Xây dựng Hà Nội góp phần tham mưu cho các cơ quan quản lý nhà nước, trong đó có Cục Đường bộ Việt Nam, nhằm giải quyết các vấn đề hạ tầng quốc gia.

Bình luận
Công ty CP Sao Băng Việt Nam Tổng công ty Xây dựng số 1 Công ty Xe đạp Thống Nhất Công ty vcc