Sáng 12/8, Quốc hội thảo luận tại hội trường về chủ trương đầu tư Dự án đường Vành đai 5 - Vùng Thủ đô Hà Nội.
Theo phương án được trình, toàn tuyến dài khoảng 349 km, trong khi giai đoạn 2026-2030 mới ưu tiên đầu tư khoảng 116 km. NSTW dự kiến bố trí trong giai đoạn này khoảng 59.700 tỷ đồng; sơ bộ tổng mức đầu tư phần tuyến chính khoảng 215.192 tỷ đồng.
Khoảng cách giữa quy mô toàn tuyến và khả năng bố trí vốn trong giai đoạn đầu đặt ra yêu cầu lựa chọn thứ tự ưu tiên, tổ chức GPMB và phân định thẩm quyền điều chỉnh dự án một cách chặt chẽ.
Giá trị lớn nằm ở khả năng kết nối các tuyến cao tốc hướng tâm
Cơ bản thống nhất với sự cần thiết đầu tư, đại biểu Tạ Thị Yên - Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Điện Biên cho rằng, đây là dự án hạ tầng chiến lược, có quy mô lớn và tác động vượt ra ngoài phạm vi các địa phương có tuyến đi qua.
Theo đại biểu, vấn đề Quốc hội cần quan tâm không dừng ở việc xây dựng được công trình, mà còn là khả năng tạo ra hiệu quả phát triển tương xứng với nguồn lực quốc gia bỏ ra.
Từ cách đặt vấn đề đó, đại biểu Tạ Thị Yên đề nghị tiếp cận Vành đai 5 như một hành lang phát triển, thay vì chỉ nhìn nhận đây là tuyến giao thông dài khoảng 349 km. Giá trị lớn của dự án nằm ở khả năng kết nối các tuyến cao tốc hướng tâm, phân luồng giao thông từ xa, liên kết các trung tâm sản xuất, logistics, cảng biển, cảng hàng không và mở thêm không gian phát triển.
Đại biểu cũng lưu ý, hiệu quả của tuyến đường cần được đánh giá từ khả năng mở rộng cơ hội tiếp cận Vùng Thủ đô và các đầu mối kinh tế lớn đối với khu vực trung du, miền núi phía Bắc và các địa bàn phía Tây. Vì vậy, khi xác định thứ tự đầu tư, bên cạnh lưu lượng giao thông và khả năng cân đối vốn, cần tính đến hiệu quả kết nối liên vùng, khả năng mở không gian phát triển và hiệu quả trong toàn bộ vòng đời dự án.
Trong điều kiện nguồn lực còn hạn chế, đại biểu Tạ Thị Yên không tán thành cách phân bổ vốn dàn đều theo địa giới hành chính hoặc chiều dài tuyến. Đại biểu đề nghị ưu tiên những đoạn có thể khai thác độc lập, tạo ngay hiệu quả mạng lưới, mở hành lang phát triển mới, đồng thời đã sẵn sàng về mặt bằng và nguồn vốn.
Công tác GPMB, chuẩn bị nguồn vật liệu cần đi trước một bước, có đầu mối chịu trách nhiệm và mốc tiến độ rõ ràng.
Ở góc độ tổ chức thực hiện, đại biểu Tạ Thị Yên cho rằng, Nghị quyết của Quốc hội phải vừa kiểm soát được những nội dung cốt lõi, vừa tạo đủ không gian để xử lý các điều chỉnh kỹ thuật cần thiết trong quá trình triển khai.
Theo đó, Quốc hội không nên quy định quá chi tiết những thông số còn phải tiếp tục tối ưu qua khảo sát, thiết kế; nhưng cần giữ quyền quyết định đối với các nội dung làm thay đổi bản chất chủ trương đầu tư, gồm mục tiêu, phạm vi, quy mô cơ bản, tổng mức đầu tư và cơ cấu nguồn lực.
Những điều chỉnh kỹ thuật nằm trong giới hạn được phê duyệt có thể giao Chính phủ và cơ quan có thẩm quyền chủ động xử lý, đi cùng trách nhiệm giải trình, báo cáo và giám sát. Quan điểm của đại biểu là phân cấp chỉ phát huy hiệu quả khi thẩm quyền đủ rõ để quyết định kịp thời và trách nhiệm cũng đủ rõ để không xảy ra tình trạng đùn đẩy.
Vốn đầu tư phải sớm tạo ra hiệu quả
Quan tâm trực tiếp đến phương án sử dụng nguồn lực trong giai đoạn 2026-2030, đại biểu Nguyễn Ngọc Sơn - Đoàn đại biểu Quốc hội TP Hải Phòng đặt vấn đề về nguyên tắc bố trí khoảng 59.700 tỷ đồng vốn NSTW để phần vốn đã bỏ ra có thể sớm phát huy hiệu quả.
Đại biểu đề nghị bổ sung vào điểm b khoản 5 Điều 2 của dự thảo Nghị quyết nguyên tắc ưu tiên vốn cho những đoạn tuyến có khả năng hoàn thành và khai thác độc lập; bảo đảm sự đồng bộ giữa GPMB và xây lắp; tránh dàn trải nguồn lực.
Đối với thẩm quyền điều chỉnh chủ trương đầu tư, đại biểu Nguyễn Ngọc Sơn tán thành hướng tiếp thu: Ủy ban Thường vụ Quốc hội quyết định việc điều chỉnh nếu không làm tăng tổng mức đầu tư; trường hợp làm tăng tổng mức đầu tư phải báo cáo Quốc hội. Tuy nhiên, quy định này cần được thể hiện ngay tại khoản 1 Điều 3 của dự thảo. Đại biểu dẫn tỷ suất nội hoàn của dự án khoảng 10,84% để nhấn mạnh biên hiệu quả không lớn, do đó yêu cầu kiểm soát tổng mức đầu tư cần được quy định rõ.
Một nội dung khác được đại biểu phân tích là sự chưa thống nhất giữa chủ trương không thu hồi đất khi chưa xác định được nguồn vốn với quy định thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư toàn tuyến một lần theo quy mô quy hoạch.
Diện tích dự kiến thu hồi khoảng 4.011 ha, trong đó có 1.776 ha đất trồng lúa, trong khi giai đoạn 2026-2030 mới ưu tiên khoảng 116 km trong tổng số 349 km.
Để bảo đảm quyền lợi của người dân và tránh đất bị bỏ hoang, đại biểu Nguyễn Ngọc Sơn đề nghị luật hóa cam kết không thu hồi đất khi chưa có nguồn vốn. Theo hướng này, việc thu hồi đất một lần chỉ áp dụng đối với những đoạn đã được bố trí vốn; các đoạn còn lại thực hiện cắm mốc và quản lý quỹ đất theo quy hoạch.
Đại biểu đồng thời đề nghị xác lập giới hạn rõ hơn đối với thẩm quyền chuyển đổi hình thức đầu tư.
Theo báo cáo giải trình, nếu vốn nhà nước hỗ trợ tối đa 50% sơ bộ tổng mức đầu tư theo quy định về đầu tư theo phương thức đối tác công tư thì phương án tài chính không khả thi; để khả thi, tỷ lệ này cần khoảng 79%.
Từ thực tế khả năng chuyển đổi hình thức đầu tư rất hạn chế, đại biểu đề nghị việc chuyển đổi phải tuân thủ điều kiện không làm thay đổi quy mô và hướng tuyến. Nếu làm phát sinh tỷ lệ vốn nhà nước vượt giới hạn áp dụng đối với dự án, cơ quan thực hiện phải báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét.
Thu hồi đất phải gắn với tiến độ đầu tư và khả năng bố trí vốn
Cùng quan tâm đến việc thu hồi đất toàn tuyến trong khi mới ưu tiên đầu tư một phần, đại biểu Lý Thị Lan - Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Tuyên Quang đề nghị quy định rõ việc thu hồi đất phải gắn với tiến độ đầu tư và khả năng bố trí vốn của từng dự án thành phần.
Những đoạn chưa được quyết định đầu tư, chưa xác định nguồn vốn thì không thu hồi đất, tránh gây ảnh hưởng kéo dài đến quyền, lợi ích và đời sống của người dân.
Từ 10 nhóm cơ chế, chính sách đặc thù Chính phủ đề xuất cho Vành đai 5, trong đó 8 nhóm đã được Quốc hội cho phép áp dụng tại một số dự án trước đây, đại biểu Lý Thị Lan đặt ra vấn đề có tính dài hạn đối với hệ thống pháp luật.
Theo đại biểu, việc nhiều cơ chế được đề xuất lặp lại cho thấy đây không còn là vướng mắc riêng của Vành đai 5, mà là những vấn đề phổ biến trong quá trình đầu tư các dự án hạ tầng giao thông lớn, từ GPMB, đất đai, rừng, vật liệu, bãi đổ thải đến điều chỉnh quy hoạch, phân cấp thẩm quyền và huy động nguồn lực.
Đại biểu cho rằng, một cơ chế đã được áp dụng tại nhiều dự án và được thực tiễn kiểm nghiệm cần được xem xét chuyển từ “cơ chế đặc thù” thành “chính sách chung”.
Nếu mỗi dự án vẫn phải trình Quốc hội một nghị quyết riêng để xin áp dụng lại các cơ chế cơ bản giống nhau, thời gian chuẩn bị đầu tư sẽ kéo dài, hệ thống pháp luật bị phân tán và có thể xuất hiện sự khác biệt giữa những dự án có tính chất tương đồng.
Trên cơ sở đó, đại biểu Lý Thị Lan đề nghị Chính phủ rà soát toàn bộ 10 nhóm chính sách đang trình Quốc hội đối với Vành đai 5, đồng thời đối chiếu với các cơ chế đã áp dụng cho những dự án giao thông trọng điểm thời gian qua.
Những chính sách đã đủ độ chín và được chứng minh hiệu quả cần sớm được luật hóa trong Luật Đầu tư công, Luật Đất đai, Luật Xây dựng, Luật Lâm nghiệp và các luật liên quan.
Những chính sách cần tiếp tục kiểm nghiệm nên được xây dựng thành một khung cơ chế chung, với tiêu chí, điều kiện và phạm vi áp dụng rõ ràng cho các dự án giao thông trọng điểm, liên vùng.
Đại biểu đặc biệt đề nghị, quá trình hoàn thiện chính sách phải tính đến các tuyến cao tốc miền núi, biên giới. Đây là những dự án gặp các vướng mắc tương tự 10 nhóm chính sách của Vành đai 5, thậm chí khó khăn hơn do địa hình phức tạp, chi phí đầu tư lớn, nguồn lực địa phương hạn chế, trong khi lưu lượng và khả năng hoàn vốn ở giai đoạn đầu còn thấp.
Theo lập luận của đại biểu Lý Thị Lan, giá trị từ việc Quốc hội xem xét các cơ chế cho Vành đai 5 không chỉ nằm ở tháo gỡ khó khăn cho một dự án cụ thể, mà còn là cơ sở thực tiễn để tổng kết, chuẩn hóa và luật hóa những chính sách đã được kiểm nghiệm, từ đó hình thành hành lang pháp lý thống nhất, ổn định cho phát triển hạ tầng giao thông quốc gia, nhất là các tuyến liên vùng, miền núi và biên giới.
Các ý kiến tại hội trường cho thấy yêu cầu xuyên suốt đối với Vành đai 5 là bảo đảm sự thống nhất giữa tầm nhìn dài hạn và khả năng thực hiện trong từng giai đoạn.
Đầu tư tuyến đường không chỉ nhằm hoàn thiện mạng lưới giao thông, mà phải mở được không gian phát triển mới; nguồn vốn không chỉ được phân bổ đúng thủ tục, mà phải tập trung vào những đoạn có thể sớm phát huy hiệu quả; cơ chế đặc thù không chỉ tháo gỡ cho một dự án, mà cần được tổng kết để hoàn thiện chính sách chung.
Giải trình, làm rõ một số nội dung đại biểu nêu, Bộ trưởng Trần Hồng Minh cho biết, Bộ Xây dựng đã tiếp thu tối đa các góp ý để hoàn thiện dự án và sẽ tiếp tục tổng hợp, giải trình những vấn đề trọng tâm được đại biểu quan tâm. Theo Bộ trưởng, Vành đai 5 có vai trò quan trọng trong kết nối vùng và kết nối giữa các tuyến vành đai, nhất là trong bối cảnh Vành đai 4 đang được triển khai. Dự án nằm trong chương trình hành động của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV về tạo đột phá phát triển kết cấu hạ tầng giao thông.
Theo quy hoạch mạng lưới giao thông Vùng Thủ đô Hà Nội, Vành đai 5 được tổ chức trong mối liên hệ với các trục hướng tâm; mỗi tuyến vành đai có vị trí, vai trò và chức năng riêng trong tổ chức không gian, phát triển giao thông.
Về quy mô đầu tư dài hạn, nhu cầu vận tải đến năm 2050 được nghiên cứu trong liên kết với năm phương thức vận tải. Toàn tuyến dự kiến xây dựng sáu làn xe cao tốc chính và hai làn đường song hành ở mỗi bên, tổng cộng 10 làn xe. Bộ Xây dựng sẽ tiếp tục nghiên cứu, làm rõ các nội dung đại biểu Quốc hội nêu để hoàn thiện chủ trương đầu tư dự án.

Thảo luận về chủ trương đầu tư Dự án đường Vành đai 5 - Vùng Thủ đô Hà Nội, các đại biểu Quốc hội đề nghị làm rõ hiệu quả phát triển, thứ tự ưu tiên sử dụng vốn, phạm vi thu hồi đất và cơ chế kiểm soát những chính sách đặc thù. 

